Muốn phát triển TMĐT: Cần thay đổi nhận thức!

Chủng loại hàng hoá chưa phong phú, trở ngại về phương thức thanh toán và chưa yên tâm về người bán…. đó chỉ là ba trong số nhiều lý do khiến cho người tiêu dùng Việt Nam ngại ngần khi đến với các website thương mại điện tử (TMĐT).

Sau 3 năm triển khai Quyết định 222 về phát triển TMĐT tại Việt Nam, các doanh nghiệp đã nhận thấy tương đối rõ hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ và công cụ điện tử đối với hoạt động kinh doanh.

Xem chi tiết

Thương mại điện tử và “bức tường” tâm lý

Thương mại điện tử đang được xác định là một trong những giải pháp tối ưu để doanh nghiệp tiết giảm chi phí, tinh gọn hoạt động sản xuất, mở rộng hợp tác kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng, khó khăn hiện nay.

Dù vậy, theo báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2008, vừa được Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương) công bố hôm 14/4/2009, mức độ đầu tư cho công nghệ thông tin và thương mại điện tử của các doanh nghiệp đã có những tín hiệu đáng mừng, nhưng tín hiệu này vẫn còn… “le lói”, bởi “bức tường” tâm lý.

Xem chi tiết

E-Metrics – nhân tố sống còn trong thương mại điện tử

Đã có rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích sự suy sụp của phong trào dotcom, mô phỏng theo những phân tích tài chính của các mô hình kinh tế, hay theo kiểu đầu tư càng mạo hiểm thì lợi nhuận càng cao.

marketingKiểu giải thích chung chung, cũ rích như vậy của các nhà kinh tế không chỉ ra được nguyên nhân và tác động thực sự của vấn đề. Trong khi trên thực tế, những dự án kinh doanh quá đơn sơ mới chính là nguyên nhân gây nên sự thất bại của các công ty đầy tham vọng.

Một hệ thống phân tích dữ liệu trên mạng là một yếu tố không thể thiếu đối với bất cứ một doanh nghiệp thông tin nào.

Nhiều công ty dotcom thành công như Yahoo, Amazon và Ebay, đang tiếp tục kinh doanh, vẫn với phương châm “Cứ đầu tư, sẽ có khách hàng” của họ.

Cũng làm theo chiến lược “Cứ đầu tư…” tương tự, tạI sao một số công ty lại thất bại, còn một số khác thì thành công? Về thực chất, các công ty đã thất bại bởi họ không phát triển một hệ thống đo lường mới, theo bản chất cốt lõi của thương mại điện tử, và nó khác một cách căn bản so với kiểu phân tích dữ liệu tài chính truyền thống.

Chỉ có rất ít các công ty hiểu rằng Internet không chỉ đơn giản là một “kênh” kinh doanh; mà nó phải được coi là một họat động kinh doanh độc lập. Và những lĩnh vực kinh doanh không truyền thống như vậy đòi hỏi phải được quản lý bằng một hệ thống đo lường hoàn tòan mới. Trong bài viết này, tôi không định đưa ra các công cụ đo lường cho ngành thương mại điện tử, tôi cũng không đưa ra “bí quyết” cho cuộc cạnh tranh trên Internet.

Tôi sẽ trình bày về một nền tảng cơ sở để tạo ra phương pháp đo lường, phân tích, đánh giá phù hợp nhất đối vớI các hoạt động kinh doanh trên mạng, và làm thế nào để thể hiện các phương pháp đó dưới dạng dễ hiểu, dễ thựchành nhất. Và sau chót, nền tảng này sẽ mang lại cho bạn những lợi ích sau:

* Phát hiện nhanh chóng những vấn đề trên trang web.
* Hiểu được các nhân tố cơ bản trên site.
* Hiểu mối quan hệ giữa đơn vị sản phẩm, doanh thu và lợi nhuận, đồng thời hiểu cách để điều chuyển các nhân tố này.

Phương pháp đo lường truyền thống và trên mạng

Phương pháp đo lường truyền thống theo lỗ và lãi (P&L) không thể tạo nên được một bức tranh hoàn chỉnh về hành vi của khách hàng. Những phương pháp đánh giá như vậy chỉ dựa vào các giao dịch đã thực hiện, được tổng hợp tại thời điểm diễn ra mua bán.

Ngược lại, các phương pháp cho thương mại điện tử (từ đây sẽ được gọi là e-metrics – hay các phương pháp đo lường, phân tích các dữ liệu thu thập từ mạng) tạo ra cơ hội để đánh giá tất cả những gì liên quan đến hành vi của khách hàng trước khi họ chính thức mua hàng.

Sự hấp dẫn của các dữ liệu trên mạng chính là nó có thể lưu giữ được từng động tác click chuột, từng hình ảnh khách hàng đã xem. Các dữ liệu này sẽ tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về các hành vi dẫn đến việc mua hàng của khách hàng (hay quan trọng hơn, những hành vi dẫn đến việc không mua hàng).

Trong thời kỳ bùng nổ dotcom, một vài từ lóng của emetrics đã trở thành thuật ngữ phân tích: page leakage (trang làm “mất khách”), sự phản đối, tính hấp dẫn, tốc độ, sự hủy bỏ giỏ hàng, độ hội tụ,… và có lẽ điều hấp dẫn nhất trong các nhân tố trên chính là hướng phân tích (khả năng tìm thấy “yếu tố quyết định dẫn đến việc mua hàng”).

Những khái niệm trên rất thú vị và mới mẻ, nhưng chúng nặng về tính lý thuyết hàn lâm bởi chúng dựa trên một chuỗi các câu chuyện giả tưởng.

Để có một quyết định khả thi, phương pháp hiệu quả nhất là trung gian giữa phương pháp đo đếm P&L (vốn khá mơ hồ và khó tích hợp hòan chỉnh) và phương pháp hàn lâm mà tôi đã miêu tả (phương pháp này khá thú vị nhưng không phải dễ kích hoạt).

Holy Grail là một tập hợp các e-metrics có thể kích hoạt và định lượng, trong đó ghi nhận các kiểu hành vi và liên kết chúng với các chỉ số kinh doanh quan trọng như số hàng tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận.

Trên lý tưởng, các dữ liệu như vậy phải được phục vụ cho cả việc quản lý và nghiên cứu phát triển, và việc ứng dụng công cụ báo cáo linh hoạt phải phù hợp với cả các những chuyên viên kỹ thuật lẫn những người không chuyên. Việc quản lý tòan bộ quá trình này đòi hỏi phải là một nhân viên thực sự giàu kinh nghiệm, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng.

Điểm khởi đầu

Những câu hỏi mà chúng ta muốn biết về khách hàng trên web rất đa dạng. Bước đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống công cụ phân tích hòan chỉnh, trong đó liệt kê các dạng phân tích cần tiến hành. Mỗi dạng phân tích phảI riêng biệt, hầu hết các câu hỏi sẽ được hình thành trong ma trận two-by-two (xem hình 1). Tôi sẽ giải thích mỗI phần của ma trận một cách chi tiết hơn.

E-metrics về chất lượng

Những phương pháp đo lường lưu lượng (trên mạng) cơ bản này thường được thực hiện trong ngắn hạn và đòi hỏI độ tích hợp thấp. Chúng chỉ dựa vào các dữ liệu về hành vi trên mạng và tập hợp vào một hệ thống dữ liệu có sẵn. Yêu cầu tối thiểu là các dữ liệu này phải được tập hợp theo tuần, nhưng khi cần thiết cũng phải thu thập được ngay khi dự án kinh doanh cần đến. Những ví dụ cụ thể là:

Lưu lượng (traffic) giữa các trang và từng nhóm trang: những dữ liệu sơ bộ về lưu lượng luân chuyển giữa các trang web được biểu hiện bằng số clicks, số lượt truy nhập, số người truy nhập…

Tỷ lệ % để mất khách hàng (Page leakage percentage): đây là tỷ lệ % số người truy cập đến một trang web và dừng lại tại đó, không tiếp tục xem sang các trang được link khác, trên tổng số người truy cập vào trang web đó.

Từ tỷ lệ này, bạn có thể nhận biết được mức độ hấp dẫn, hiệu quả trong thiết kế website của mình, thay cho những nhận xét mang tính cảm nhận trước đây. Ngoài ra, mỗi lần có sự thay đổi trên website, việc so sánh tỷ lệ này sẽ giúp bạn đưa ra đánh giá thích hợp nhất.

Click tiếp theo (next click): đây là một yếu tố quan trọng trong phân tích, đánh giá xem trang nào thường xuyên được xem tiếp từ một hay một nhóm trang web nhất định. (khi xem xét thông số này, bạn nên xét trong một nhóm nhỏ các trang, vì nhiều khi kết quả số trang được liệt kê phụ thuộc vào cách thiết kế web).

Thiết kế web có ảnh hưởng rất lớn đến next click, đặc biệt khi ta tiến hành thu thập dữ liệu từ một trang chủ có chứa nhiều đường link. Quan trọng hơn, thông số này giúp bạn đo lường được một trong những vấn đề hóc búa nhất trong thiết kế Web: giá trị bất động sản của trang web.

Click trước đó (Previous click): tương tự như Next click, việc lấy số liệu về previous click sẽ cho ta biết những trang web nào là đường dẫn thường xuyên nhất đến một trang web hay nhóm trang nhất định.

Mô hình định hướng và giá trị bất động sản của một trang là những vấn đề cốt lõi trong phương pháp đo lường này. Những tên miền và URL ghi lại được sẽ rất có ích, đặc biệt khi trình bày dưới dạng minh họa cho một ảnh hưởng nào đó.

Việc ghi lại các đo lường điện tử về chất lượng một cách tự động, đầy đủ và đều đặn rất quan trọng. I’t nhất, ngườI quản trị cũng nên duy trì những báo cáo e-metrics thường xuyên.

E-metrics theo dự án

Mặc dù chỉ dựa vào dữ liệu điện tử, các cách đo lường này được xây dựng cho mục tiêu dài hạn hơn, dài hạn ở đây có nghĩa là những phân tích này nhằm vào mục đích phát triển những ứng dụng trên mạng, bằng việc đo lường những thay đổi kỹ thuật.

Kiểu e-metrics này được tạo ra để thúc đẩy quá trình giao dịch trên mạng bằng cách đo lường các biến đổi từng giai đoạn, từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ, nếu một giám đốc dự án muốn cải thiện một phần của trang web, nhà tư vấn phân tích Web sẽ cùng với vị giám đốc dự án tạo ra một hệ thống đo lường xung quanh các trang đặc biệt và cần được cải tiến.

Hệ thống này có thể bao gồm việc đo lường tần suất truy cập, hoặc nếu nhóm trang web có tính hệ thống và theo một trình tự (chẳng hạn như quá trình đăng ký hay ứng dụng), các phương pháp đo lường có thể bao gồm những kết quả chi tiết kiểu bậc thang.

Kiểu báo cáo này có giá trị rất quan trọng trong việc phân tích tác động của doanh thu hình phễu, hay tỷ lệ số khách hàng trong một giai đoạn này với số khách hàng trong một giai đoạn khác của một quá trình bán hàng. Chẳng hạn như nếu một giám đốc dự án muốn thu hút được nhiều khách hàng trên mạng để giảm cuộc gọi đến trung tâm dịch vụ khách hàng.

Nhà tư vấn phân tích Web sẽ tạo ra một cách đo lường trọn gói để nhà quản lý dự án phải thực hiện để biết xem có bao nhiêu khách hàng đã sử dụng ứng dụng mới trên trang web của ông ta trên tổng số khách hàng đã liên hệ (cả qua web và điện thoại).

Khi dự án hoàn thành và sự cải tiến trong kinh doanh được ghi vào sổ kế tóan, những dữ liệu này sẽ không cần phải ghi lại nữa, vì vậy đây được coi là phương pháp nhất thời.

Tuy nhiên, trong khi kiểu e-metrics này có thể không cần thiết đối với mô hình kinh doanh đều đều, nó lại rất quan trọng đối với các dự án để chứng minh giá trị thật sự của dự án và giảm bớt tổng chi phí.

Các e-metrics này về bản chất là các câu hỏi được đặt ra để tư vấn chi tiết cho các nhà kinh doanh, đặc biệt là trong các dự án. Khi đã biết được các câu hỏi, giám đốc dự án cần có các công cụ truy cập dữ liệu và báo cáo cần thiết để có thể lập các báo cáo theo từng mục tiêu sử dụng ngay khi cần thiết.

Mặc dù các phương pháp đo lường này thường nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các dự án kỹ thuật, các câu hỏI thường mang tính ngắn hạn, không còn giá trị khi dự án đã được thực hiện. Tuy nhiên, nếu sau quá trình thực thi, các đo lường này được đánh giá là cần thiết cho việc kinh doanh thì chúng sẽ được thực hiện đều đặn như là e-metrics cho chất lượng.

E-metrics theo chiều sâu

Đây là các e-metrics được áp dụng trong ngắn hạn và đòi hỏi nhiều công sức tích hợp. Chúng có tính tùy biến 100% và vì vậy là đây là một cách đo lường tốn nhiều thời gian nhất, bởi chúng được xây dựng nhằm đáp ứng rất nhiều các tra vấn khác nhau.

Những tra vấn này có thể bao gồm các phân tích nguyên nhân gốc rễ, kiểm tra giả thiết, nghiên cứu khoảng cách an tòan, phân tích nhóm khách hàng, phân tích giỏ hàng, phân tích chuỗi và kết hợp, và còn nhiều ứng dụng khai thác dữ liệu khác.

Thực hiện e-metrics theo chiều sâu không dễ dàng chút nào, vì ít nhất 3 lý do sau:

* Phải có sự tích hợp giữa nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, và điều này trên thực tế là rất phức tạp.
* Việc thu thập dữ liệu rất phức tạp vì phương pháp này đòi hỏi phải có một số lượng lớn các loại dữ liệu để thực hiện theo các phân tích khác nhau.
* Phân tích thống kê thường là mục tiêu đầu tiên của phương pháp này, …

Ít có công ty nào khẳng định rằng các dữ liệu về e-metrics, tài chính, khách hàng và hỗ trợ khách hàng của mình được lưu trữ trong một hệ thống cơ sở dữ liệu duy nhất. Thông thường các cơ sở dữ liệu thường chạy trên nhiều hệ thống khác nhau, và việc thu thập được dữ liệu như ý muốn là rất phức tạp (chẳng hạn như phải lấy dữ liệu từ một cơ sở dữ liệu nào đó và kết hợp với các trường khoá để lọc dữ liệu nhiều lần cho đến khi có bản báo cáo cuối cùng)

Chính vì vậy, e-metrics theo chiều sâu thường được sử dụng trong các dự án công nghệ. Bạn cần phải biết cân đối các yêu cầu sao cho kết quả phân tích đạt được hiệu quả cao trong một khung thời gian nhất định. E-metrics thường dẫn đến những thay đổi đáng kể trong kinh doanh bởi chúng có khả năng đo đếm được những nguyên nhân, ảnh hưởng vô hình mà trước đây đã bị bỏ qua.

Một ví dụ dưới đây sẽ trình bày những cơ hội đặc biệt với các khách hàng của bạn bằng việc phát triển một bản báo cáo về số lần mua hàng của một sản phẩm hay số hàng dự trữ, trên số lần truy cập vào sản phẩm đó, và sau đó vẽ đồ thị kết quả:

* Lượt truy cập ít / lượt trao đổi thành công thấp: chứng tỏ sản phẩm ít được quan tâm hay khách hàng khó tìm thấy sản phẩm này trên site. Nếu bạn thấy cách trình bày sản phẩm và hướng dẫn mua hàng đã rất rõ ràng, dễ hiểu thì chứng tỏ sản phẩm này không được khách ưa chuộng.
* Lượt truy cập thấp/lượt trao đổi thành công cao: chứng tỏ khi khách hàng truy cập vào đây, họ đã biết chắc mình muốn mua gì. Cần xem xét để đưa những mặt hàng đó vào danh sách những sản phẩm best-sellers.
* Lượt truy cập cao/lượt trao đổi cao: chứng tỏ sản phẩm rất được ưa chuộng, bán chạy. Không cần phải chi thêm chi phía quảng cáo, khuyến mãi nào cho sản phẩm này nữa.
* Lượt truy cập cao/lượt chuyển đổi thấp: Cơ hội của bạn rất nhiều. Cần tìm biện pháp xúc tiến bán hàng, đưa ra mức giá cạnh tranh hơn, tăng cường khuyến mãi để thúc đẩy doanh số.

Báo cáo tích hợp cao và tự động

Kiểu e-metrics này thường được thực hiện trong dài hạn và cần có sự tích hợp cao. Chúng có xuất phát từ e-metrics theo chiều sâu và từ kết quả của các báo cáo tích hợp khá phức tạp,

Để có được các dữ liệu báo cáo tự động và độ tích hợp cao đòi hỏi phải có sự nỗ lực của các nhà phân tích web, nhà quản lý kinh doanh và cơ sở hạ tầng IT cần thiết. Bởi những báo cáo dạng này tốn rất nhiều công sức tạo dựng được cơ sở dữ liệu phù hợp, nhằm mục tiêu trả lời được càng nhiều, càng nhanh các câu hỏi càng tốt.

Như tôi đã nói ở trên, việc báo cáo dữ liệu nên được điều hành và phát triển cùng nhau, đồng thời các công cụ lấy dữ liệu phải thật linh hoạt để có thể phù hợp với cả các chuyên gia kỹ thuật lẫn những người không chuyên.

Những công cụ thu thập dữ liệu linh hoạt như Excel Pivot Tables và quá trính phân tích thông tin trên mạng có thể cung cấp nhiều loại báo cáo có mức độ quan trọng khác nhau. Những công cụ này sẽ dễ dàng thu thập các báo cáo liên quan, để có tầm nhìn tổng quan trên một diện bao quat rộng, sau đó các dữ liệu phức tạp sẽ được tổng hợp trong một định dạng dễ hiểu về e-metrics chất lượng.

Với những nền tảng cơ sở về phân tích điện tử như vậy, bạn đã có được một phương pháp để đo lường tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, thông qua hành vi của khách hàng trên mạng.

Bản năng tồn tại

Một hệ thống nền tảng vững chắc về phân tích trên mạng sẽ tạo ra được các giải pháp phân tích chất lượng chính xác nhất đối với những vấn đề mà trước đây vẫn được coi là vô hình và không thể định lượng được, đó là đánh giá phân tích mức độ tích hợp và lưu lượng giao dịch trên mạng.

Tuy nhiên, việc tìm tòi và xây dựng hệ thống nền tảng chỉ là bước đầu tiên. Duy trì quá trình đó thông qua việc quản lý định lượng theo mô hình đào tạo, uỷ quyền và chuyển giao mới là điều chủ chốt để tăng hiệu quả đánh giá.

Khả năng đánh giá, đo lường điện tử hay còn gọi là emetrics là một điều cực kỳ quan trọng trong sự thành công của thương mại điện tử và nó quyết định sự thành bại của tất cả các công ty dot.com.

( SEMvietnam – Nguồn tin: Vncompanies)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Vai trò của Thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập

Có thể nói rằng thế kỷ 21 đã và đang chứng kiến sự phát triển tột bậc trong ngành công Nghệ Thông tin.

Công nghệ thông tin đã và đang thay đổi thế giới (người ta nói nhiều đến thế giới “phẳng” hơn) cũng như tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong mọi lĩnh vực của khoa học và đời sống.

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động SXKD cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Khái niệm ứng dụng CNTT trong hoạt động thương mại hay còn gọi là thương mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phương thức kinh doanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…vv.

Tuy nhiên đối với một số nước đang phát triển nói chung và việt nam nói riêng TMDT lại là một điều khá mới mẻ dẫu rằng việc nắm bắt xu thế và phát triển đã và đang ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong công tác QLNN cũng chưa thực sự hoàn thiện cho lĩnh vực này. Trong công tác ứng dụng ở cả DN cũng như các cơ quan, tổ chức cũng đang ở mức độ thăm dò và hỗ trợ cho hình thức kinh doanh truyền thống hoặc kết hợp giữa hai hình thức này.

Mặc dù đã có rất nhiều doanh nghiệp biết ứng dụng và phát triển TMDT và trở thành điển hình trong lĩnh vực này như công ty Vietgo, công ty cổ phần vật giá với sàn giao dịch TMĐT :vatgia.com; công ty peaceoft solution với trang web: chodientu.vn, …vv.

Tuy nhiên, việc khai thác và ứng dụng TMDT luôn là hai mặt của một vấn đề: Thứ nhất chúng ta đang ở giao thời giữa kinh doanh truyền thống và phương thức kinh doanh TMDT, do vậy luôn có sự so sánh thực dụng và ngắn hạn về tính hiệu quả giữa hai phương thức này.

Thứ hai TMDT cũng đòi hỏi phải có cách nhìn nhận khác hơn, trí tuệ hơn và.. khó hơn (không theo lối tư duy cũ), việc ứng dụng và phát triển TMDT đỏi hỏi sự nhận thức sâu rộng trong xã hội và môi trường làm việc cũng như quản lý và hạn chế các mặt tiêu cực như việc gian lận, niềm tin, phá hoại vv.. đã và đang ở trên rất khó kiểm soát vì tính nhanh, mạnh và kỹ thuật cao của loại hình này.

Phát triển TMDT cũng giống như lịch sử phát triển của Thương mại truyền thống, bước đầu là tự phát khi mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp hay một cơ quan, tổ chức nhận thấy lợi ích của mình trong đó rồi sau đó trở nên hiện đại hơn và đa phương thức hơn. Tuy nhiên để mở rộng và phát triển ở tầm cao cũng như tạo nên lợi ích thực sự cho cộng đồng xã hội thì cần có “bàn tay của nhà nước” ở góc độ mà các đơn vị không thể hoặc không muốn làm.

Vậy chúng ta phải phát triển và quản lý nó như thế nào để hạn chế tiêu cực và phát huy tính tích cực để đạt được tính hiệu quả cac về mặt xã hội, cá nhân và cộng đồng..? Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ từng bước phân tích ở cả hai góc độ: hỗ trợ để phát triển và quản lý để kiểm soát: Về công tác hỗ trợ để phát triển: rõ ràng khi nhận thấy lợi ích thì các DN, TC và cá nhân sẽ tự phát ứng dụng và phát triển nó.

Tuy nhiên quy trình này thường diễn ra chậm chạp và thiếu định hướng do vậy luôn đi kèm với nhiều vấn đề nảy sinh. Công tác hỗ trợ để phát triển nhằm hai mục đích : phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, đồng bộ hơn và quan trọng nhất là phát triển đúng định hướng. Hiện nay ở tỉnh ta công tác hỗ trợ cho hoạt động này mới chỉ dừng ở công tác tuyên truyền, tập huấn và triển khai ở một số ban ngành nhằm phục vụ cho hoạt động của nghành.

Riêng đối với ngành công Thương thì bước đầu đã có hướng cho hoạt động này như website: ntpc.vn của Trung tâm XTTM, và dự kiến lập sàn giao dịch TMDT nhằm phục vụ cho công tác quảng bá và tìm kiếm thị trường hỗ trợ doanh nghiệp.

Chúng tôi xin đưa ra một số biện pháp hỗ trợ như sau:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá thông qua các phương tiện truyền thông và các cuộc tập huấn, hội thảo.

- Tạo đầu mối hay cổng thông tin TMĐT để tập hợp và hỗ trợ công tác quảng bá, mở rộng mối tương quan, liên kết, kết hợp nhằm mở rộng thị trường và hỗ trợ công tác SXKD. Công tác này gần giống như tạo chợ cho các hộ buôn bán, kinh doanh.

- Tạo cơ sở hạ tầng cho việc phát triển TMĐT như hỗ trợ xây dựng website đối với doanh nghiệp, khuyến khích công tác ứng dụng B2B, B2C và khuyến khích phát triển các ngành phụ trợ cho TMĐT như viễn thông, ngành CNTT..vv. (như nâng cao tốc độ đường truyền Internet đáp ứng được yêu cầu của người dùng, nhất là trong Thương mại điện tử, khuyến khích phát triển và có sự hỗ trợ của nhà nước trong việc phát triển các công cụ xây dựng phần mềm; giải pháp kết hợp các phần mềm TMĐT với các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu truyền thống; sự quan tâm đầu tư của nhà nước trong công tác nâng cấp, mua sắm các máy chủ thương mại điện tử đặc biệt (công suất, an toàn)

- Hoàn thiện kiến trúc thượng tầng cho việc phát triển TMĐT (xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy trong TMĐT; xây dựng khung pháp lý, cơ chế chính sách thu hút và tạo mọi điều kiện về thủ tục hành chính tương hỗ cho công tác này).

Về công tác quản lý để kiểm soát: Rõ ràng TMĐT đã đang và sẽ phát triển rất nhanh và mạnh với rất nhiều loại hình và nhiều biến tướng. Do đặc thù là dựa vào công nghệ cao và mềm dẻo, trong môi trường ảo nên công tác quản lý TMĐT để tránh các tiêu cực nảy sinh là rất khó.

Do vây cách tốt nhất để kiểm soát TMĐT vẫn là từ công tác nâng cao nhận thức của người dùng, và hoàn thiện khung pháp lý cho TMĐT. Bên cạnh đó việc quản lý các trung tâm, đầu mối của TMĐT và phối kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để thực hiện tốt hơn công tác quản lý ở lĩnh vực này./.

(SEM vietnam -Theo Vietnambranding)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Cơ hội và thách thức thương mại điện tử

Từ năm 1993, việc sử dụng Internet và World Wide Web đã bắt đầu và đư­ợc thúc đẩy do việc liên tục hạ giá các sản phẩm phần cứng và phần mềm.

Chính điều này đã tạo nên một “cấu trúc thông tin” toàn cầu để hỗ trợ thư­ơng mại. Giờ đây, do sự phát triển như­ vũ bão của Internet, thư­ơng mại điện tử đồng nghĩa với thư­ơng mại Internet…

Ô tư­ởng về tiến hành thư­ơng mại không cần giấy tờ mà dựa hoàn toàn trên các phư­ơng tiện điện tử, truyền thông đã có từ những năm 1960.

Từ năm 1993, việc sử dụng Internet và World Wide Web đã bắt đầu và đư­ợc thúc đẩy do việc liên tục hạ giá các sản phẩm phần cứng và phần mềm. Chính điều này đã tạo nên một “cấu trúc thông tin” toàn cầu để hỗ trợ thư­ơng mại. Giờ đây, do sự phát triển như­ vũ bão của Internet, thư­ơng mại điện tử đồng nghĩa với thư­ơng mại Internet.

Ngày nay, Internet tạo ra một mạng làm việc đa phư­ơng tiện, giàu thông tin đư­ợc phân tán, hiện đang kết nối hơn 50 triệu ng­ời dùng, 16 triệu máy chủ ở trên 140 nư­ớc.

Theo một khảo sát về nhân khẩu học Internet của Nielsen 9 một công ty thành viên của tập đoàn CommerceNet) thì có khoảng 50 triệu ngư­ời trên 16 tuổi ở Mỹ và Canada có truy nhập vào Internet, khoảng 37 triệu ngư­ời truy nhập vào WWW.

Cũng theo khảo sát này thì những ngư­ời sử dụng Internet đều có học thức và có thu nhập trên mức trung bình, đồng thời theo họ thì những thông tin liên quan đến mua bán qua Internet thông dụng và hiệu quả hơn tiếp thị trực tiếp bằng thư­ và mua bán qua Internet đặc biệt hấp dẫn với những người coi trọng sự thuận lợi hơn giá cả.

Có lẽ chính điều này khiến Internet nhanh chóng trở thành cơ sở hạ tầng đa phương tiện có tác động lớn nhất cho marketing và nó đang dần chiếm chỗ những phư­ơng tiện truyền thông khác.

Internet cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tiếp. Ngư­ời tiêu dùng có thể mua sắm bất cứ sản phẩm nào của nhà sản xuất và những nhà bán lẻ trên khắp thế giới. Họ có thể xem xét các sản phẩm , thông tin về sản phẩm trên máy tính hay màn hình ti vi, có thể lấy những thông tin này hay dùng nó để tạo ra những yêu cầu về các sản phẩm phù hợp với mình, đặt hàng và thanh toán … Tất cả đều đư­ợc thực hiện ngay tại nhà.

Đã có khá nhiều cửa hàng ảo (Vitual Stores) trên Web như­ Internet Shopping, Amazone Books, CDNow … mở cửa 24/24 giờ với đủ loại danh mục hàng hoá. Cửa hiệu Computer ESP của Uvision dùng công nghệ đặc vụ (agent technology) để giúp khách hàng mặc cả, chọn lựa trên 80.000 sản phẩm máy tính và so sánh giá cả với 500.000 giá yết.

Purchasing Extranet (mạng Extranet mua sắm) của Wiznet chắt lọc và lư­u trữ một thư­ viện ảo gồm 31.000 catalog với hơn 3 triệu mặt hàng điện tử cùng mô tả chức năng với 5 triệu ảnh kèm theo. Mỗi tuần có 65.000 lư­ợt ngư­ời tìm hỏi mua, từ đó tạo ra hơn 4.300 trao đổi E-mail.

Theo thống kê mới nhất của Hãng nghiên cứu thị trư­ờng quốc tế IDC (International Data Corporation) thì thư­ơng mại toàn cầu trên Web tăng từ 2,6 tỷ đô la trong năm 1995 lên 10 tỷ đô la trong năm 1997 (khoảng 0,05% tổng thư­ơng mại toàn cầu) và sẽ tăng lên 220 tỷ đô la trong năm 2001 (hơn 1% tổng thư­ơng mại toàn cầu).

Với các doanh nghiệp, Internet giúp nâng cao những thông tin về tổ chức kinh doanh và việc làm, thay đổi cách tiếp xúc với khách hàng và phư­ơng sách trên toàn cầu.
Đầu tiên, Internet làm giảm đáng kể chi phí cho việc xuất bản và phổ biến thông tin trong một doanh nghiệp. Ngân hàng Morgan Stanley – một ngân hàng hàng đầu ở New York hàng năm tiết kiệm đu­ợc 300.000 đến 700.000 đô la tiền giấy nhờ việc gần 10.000 nhân viên của ngân hàng dùng WWW để truy nhập đến các thông tin, các bản báo cáo điện tử một cách thư­ờng xuyên.

Hãng Auto-By-Tel của Ellis bán đư­ợc 2 tỷ đô la hàng năm bằng cách cho khách hàng thâm nhập vào cơ sở dữ liệu của các đại lý để chọn xe, đàm phán, thống nhất việc mua bán ô tô thông qua Web.

Công ty Cisco dùng Internet để nhận đơn đặt hàng và tập hợp những thông tin về khách hàng thông qua Cisco Connection Online. Trung bình mỗi tháng 13% đơn đặt hàng của công ty đư­ợc nhận thông qua Internet. Thay vì hỏi các nhân viên của công ty, khách hàng tìm hiểu chi tiết về sản phẩm công nghệ trên Cisco Connection Online. Bằng cách chuyển các chức năng hỗ trợ lên WWW, Cisco đã tiết kiệm đ­ợc trên 250 triệu đô la/năm.

Đồng thời, công ty còn có những phần mềm dùng trong việc đặt hàng, định mẫu hàng đặt theo yêu cầu của khách, kiểm tra giá cả và tình trạng đặt hàng. Cisco cũng dùng những thông tin thu đư­ợc về mẫu đư­ợc khách hàng chọn khi đặt hàng để có thể dùng những kiểu mẫu đó mà bán cho những khách hàng tư­ơng tự.

Hệ những phần mềm này có khả năng tư­ơng tác, tích luỹ thông tin về sở thích, cung cách mua của khách hàng và mở ra những khả năng bán hàng mới. Đây là khả năng quan trọng, có tác động hoạt động sâu rộng đến th­ơng mại của thư­ơng mại điện tử.

Cơ hội mà thư­ơng mại Internet tạo ra là không thể phủ nhận. Song nó cũng đư­a ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp. Chi phí giao dịch giảm và thông tin phong phú sẽ làm giảm lợi nhuận cũng như­ lợi thế cạnh tranh của một số lĩnh vực kinh doanh. Đó là các ngành từ trư­ớc đã tận dụng đư­ợc sự mất cân đối về thông tin giữa ngư­ời mua và ngư­ời bán như­ môi giới bất động sản và những ngành luôn phải ở gần khách hàng để giảm chi phí tìm kiếm và chi phí mua hàng của khách hàng như­ ngành bán lẻ.

Internet cho phép giảm chi phí xuất bản và như­ vậy, bất cứ ai đư­ợc nối vào cơ sở hạ tầng thông tin đều có thể trở thành một nhà xuất bản toàn cầu. Điều này tạo ra môi tưr­ờng rất hỗn độn. Một khi quá nhiều thông tin, khách hàng dễ bị ngợp và do vậy sự chú ý của khách hàng là yếu tố quan trọng với các doanh nghiệp.

Cạnh tranh về giá cả cũng gia tăng vì các phần mềm sẽ giúp xác định dễ dàng các nhà cung cấp có giá rẻ, nhất là các mặt hàng thông dụng.

Để ứng phó với các thách thức của thư­ơng mại Internet: Tính hiệu quả cao hơn của thị trường, lợi nhuận giảm, sự quá tải thông tin … các nhà quản trị phải xác định lại các chiến lư­ợc kinh doanh, marketing, nhấn mạnh đến các vấn đề quy mô, sự khác biệt, các dịch vụ gia tăng và nhãn hiệu thư­ơng mại.

(SEM Vietnam – Theo Nguoilanhdao)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png