Top 5 điều hoang tưởng về SEO

SEO (Search Engine Optimization) là một nghệ thuật, một công việc hàng ngày và mang tính cạnh tranh cao. Không ít người hứa những điều không tưởng về kết quả công việc SEO đối với bạn và sau đây là 5 trong số đó.

1. Kết quả 24 giờ: Không ai có thể thấy được kết quả của công việc này chỉ trong vòng 24 giờ. Có rất nhiều lời quảng cáo từ phía các SEO mũ đen như “Lên top 10 chỉ trong vòng 8 giờ”. Theo kinh nghiệm của những chuyên gia SEO lâu năm, những “ông lớn” trong thị trường tìm kiếm – Google, Yahoo, MSN – đều mất tới cả ngày chỉ để đặt chỉ mục các trang web.

Google luôn là công cụ lôi kéo được nhiều chủ sở hữu trang web mới – cho dù thế nào đi nữa thì cuộc chiến thứ hạng tìm kiếm vẫn diễn ra thường xuyên. Hầu hết các nguyên nhân để mang đến thành công là nhờ việc xây dựng những liên kết có chất lượng và/hoặc những độc giả trung thành.

Tất cả những người làm SEO nói đến kết quả mang lại nhanh chóng là do họ phát tán các liên kết của trang web với tốc độ cao và điều này có thể mang đến kết quả ngược lại do các cỗ máy tìm kiếm liệt họ vào những trang web spam và loại bỏ khỏi các thuật toán tìm kiếm. Điều này không mang lại lợi ích lâu dài cho một trang web muốn vươn lên thứ hạng cao trong mắt các công cụ tìm kiếm.

2. Vị trí top là mãi mãi: Không có gì có thể đảm bảo vị trí của một trang web trước thứ hạng của công cụ tìm kiếm nếu như chất lượng của trang web vẫn chỉ dậm chân tại chỗ, và trang thứ hạng của trang web đó có thể mất bất cứ lúc nào vào tay các đối thủ của mình. Đây là điều chắc chắn bởi các trang khác luôn tìm cách để cải thiện thứ hạng của mình trong con mắt của công cụ tìm kiếm. Và cũng không có sự chắc chắn nào cho các vị trí trong trang kết quả đầu tiên.

Đối với những trang web mới, cần phải có một vài thủ thuật nhỏ để nhanh chóng đạt được những thứ hạng nhất định. Nhưng để lọt vào top 10 trong bảng kết quả thì đó là một công việc vô cùng khó khăn. Một vị trí tốt là một trang web có khởi đầu chậm chạp và lớn lên cùng với sự phát triển của trang web.

Xem chi tiết

Bí quyết làm giàu của “ông trùm” hộp giấy carton – Richard Pratt

Nhắc đến cái tên Richard Pratt, ngay lập tức người ta nghĩ ngay đến một doanh nhân nổi tiếng, thành đạt vào hàng top ở Australia và khu vực châu Đại Dương. Số tài sản lên đến hàng tỷ USD của Richard Pratt được nhân lên nhờ những hộp giấy carton có vẻ không có mấy giá trị

Vậy đâu là bí quyết để Richard Pratt biến đống giấy lộn thành “mỏ vàng” của chính mình?

richatNgay từ đầu có thể khẳng định, chính cuộc đời nhiều thăng trầm từ rất nhỏ đã tôi luyện bản lĩnh và ý chí làm giàu của Richard Pratt. Là một doanh nhân thành đạt của Australia nhưng ít người biết được rằng Richard Pratt là người gốc Do Thái. Ông sinh ngày 12/3/1934 tại thành phố Gdansk của Ba Lan. Năm Richard Pratt tròn 4 tuổi để đưa gia đình thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn thời điểm đó, bố của Richard Pratt – ông Leon đã đưa gia đình sang thành phố Shepparton, Australia định cư và đây cũng là thời điểm cậu bé Przecicki được đổi tên thành Pratt.Lập nghiệp trên đất nước hoàn toàn xa lạ, bố của Richard Pratt đã từng làm rất nhiều nghề để có được những đồng tiền cho gia đình và bản thân Richard Pratt ăn học.

Sinh trưởng trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ngay từ khi còn nhỏ, Richard Pratt đã sớm phải cùng cha gánh vác các công việc của gia đình. Do đó, ý thức quyết tâm vươn lên trong cuộc sống luôn thúc giục Richard Pratt phấn đấu học tập từ khi ông còn ngồi trên ghế nhà trường.

Bỏ lại sau lưng những khó khăn của cuộc sống, Richard Pratt dành hầu hết tâm trí cho công việc học tập của mình và luôn đạt kết quả tốt. Ngoài thời gian học tập, để có thể phần nào giúp đỡ gia đình, Richard Pratt còn cùng gia đình thu mua giấy vụn, chế biến và làm thành những thùng giấy cứng cung cấp cho những hộ gia đình trồng hoa quả và rau trong vùng.

Sau khi học xong chương trình tiểu học tại trường Grahamvale Primary School, Richard Pratt đã thi vào học tại trường Shepparton High School tại thành phố Shepparton và tiếp theo khoa Thương mại của trường University of Melbourne và tốt nghiệp năm 1953. Khi còn là sinh viên, Richard đã bộc lộ rõ tố chất thông minh trong học tập, chịu khó trong công việc.

Là người có cá tính mạnh mẽ không ngại khó khăn, sau khi tốt nghiệp đại học, Richard Pratt đã quyết định xin vào làm nhân viên tại Công ty Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll. Trong thời gian làm việc tại đây, Richard Pratt đã có cơ hội làm việc tại các trung tâm công nghiệp lớn như London của Anh, New York của Mỹ. Công việc rất vất vả tại Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll đã giúp Richard Pratt học hỏi rất nhiều kinh nghiệm sống cũng như kiến thức thực tế về lĩnh vực kinh doanh.
Sau này, chính Richard đã cho rằng những năm tháng miệt mài học hành này đã đem lại thành công của ông hôm nay. Theo Richard, ý tưởng sáng tạo, môi trường kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu. Ông quan niệm rằng một nền tảng học vấn tốt về kinh doanh, cộng với những kinh nghiệm cuộc sống có được từ thực tế hoặc đi tình nguyện là một sự khởi đầu tuyệt hảo cho những thành công nối tiếp.

Sự thành đạt và giàu có của Richard Pratt có thể được xem là điển hình của việc “cha truyền con nối”. Thừa hưởng tư duy tài chính sắc sảo của mẹ và kỹ năng kinh doanh chiến lược của cha, Richard Pratt trở thành đại gia ngành giấy và là một trong 3 người giàu nhất Australia một cách “ngoạn mục”.

Bố của Richard, ông Leon vốn là một người có đầu óc kinh doanh, được sự hỗ trợ của vợ đã từ hoạt động buôn bán nhỏ lẻ đơn thuần đã thành lập hãng Visy Board chuyên cung cấp cho thị trường các loại đồ hộp làm từ giấy do nhận thấy thị trường ngày càng cần mặt hàng này. Năm 1969, ông Leon qua đời và cậu con trai Richard Partt đương nhiên trở thành người kế nghiệp.

Và quả thực, Richard đã khẳng định mình là người thừa kế xuất sắc và hoàn toàn xứng đáng. Từ một công ty Visy Board nhỏ bé chuyên tái chế và cung cấp hộp giấy carton, sau hơn 30 năm điều hành, bằng những sản phẩm giấy hộp carton cải tiến dành cho các sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao, Richard Pratt đã xây dựng thành công Tập đoàn công nghiệp giấy Visy Industries vươn tầm ra khu vực và thế giới với tổng thu nhập hàng năm lên tới 2,5 tỷ USD, hơn 8.000 nhân viên và hàng trăm chi nhánh tại các quốc gia khác nhau. Cùng với đó, Richard Pratt cũng đã tạo dựng được cho riêng mình khối tài sản cá nhân lên tới 2,3 tỷ USD, đứng trong Top 3 người có số tài sản lớn nhất Australia.

Tuy nhiên, thành quả này không phải dễ dàng mà Richard có được. Đã từng có kinh nghiệm hoạt động trong môi trường kinh doanh thực tế tại Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll, sau khi tiếp quản Visy Board, Richard Pratt đã nhanh chóng nắm bắt được các hoạt động của công ty. Ngoài nhu cầu ngày càng cao của thị trường, mẫu mã và hình dáng các sản phẩm hộp giấy carton ngày càng đòi hỏi phải có hình thức và mẫu mã đẹp. Riachard tự nhận mình là nhà sáng tạo đầy tài năng, ông say mê các ý tưởng, dám đương đầu với thách thức. Và đó là bí quyết để Richard có được những bước đi táo bạo khi mở rộng và phát triển công việc kinh doanh của mình.

Do đó, bước đầu tiên Richard Pratt tiến hành chính là nghiên cứu cải tiến dây chuyền sản xuất hộp giấy của công ty. Ông đã huy động vốn của Visy và các khoản đóng góp của các đối tác khác để thực hiện dự định này. Bằng nỗ lực không biết mệt mỏi của mình, cuối cùng, Visy Board cũng có được một dây chuyền sản xuất giấy đóng hộp tiên tiến và vươn lên vị trí một trong những nhà sản xuất và cung cấp hộp giấy carton hàng đầu Australia.

Trong những năm 70, bình quân mỗi năm Visy Board sản xuất được 100.000 tấn hộp giấy. Tới năm 1979, công ty đã xây dựng được nhà máy tái chế giấy quy mô lớn tại Warwick Farm, chính nhà máy này đã trở thành bàn đạp trọng yếu của Richard Pratt trong chiến lược tiến ra chiếm lĩnh các thị trường quốc tế.

Có chỗ đứng vững chắc tại thị trường trong nước, Richard Pratt ngay lập tức đưa ra chương trình hướng tới thị trường trong và ngoài khu vực. Trong giai đoạn thập niên 80 và 90, tại hầu hết các quốc gia phát triển, các ngành công nghiệp phát triển rất mạnh, đặc biệt là Anh, Mỹ… Do đó, đích mà Richard Pratt hướng tới không đâu khác chính là những thị trường đầy tiềm năng này. Richard Pratt đã hầu như dồn hết nguồn tài chính có được tại thị trường nội địa vào thiết lập ngay những chi nhánh tại Mỹ để tận dụng được nguồn nhân công dồi dào và lượng giấy phế thải tại chỗ. Tại các chi nhánh, Richard Pratt đã đưa vào áp dụng quy trình đa dạng các loại sản phẩm giấy carton loại dày có tính năng ưu việt vừa bền vừa có mẫu mã đẹp, đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh, đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường. Nhờ đó, Visy Board không chỉ thiết lập được một mạng lưới các nhà máy tại Staten Island, New York, Coolaroo, Victoria, New South Wales Mỹ mà còn mở rộng được các chi nhánh sang cả thị trường New Zealand và Papua New Guinea.

Ngoài các sản phẩm hộp giấy carton công nghiệp truyền thống, Richard Pratt còn tiến hành hàng loạt các chương trình đầu tư vào các ngành công nghiệp xử lý và cung cấp nước sinh hoạt. Dựa trên nguồn vốn hùng mạnh của Visy Industries, Richard Pratt đã thiết lập một hệ thống các nhà máy sơ chế các loại nước thải của các thành phố sau đó phân loại xử lý thành nước sạch dành cho sinh hoạt và cung cấp cho người sử dụng.

Bằng các khoản đầu tư lớn này, Visy Industries cũng nhanh chóng vươn lên vị trí một trong những nhà cung cấp nước sạch hàng đầu ở Australia. Richard Pratt cũng đã trở thành một trong những nhà cải cách về tiêu chuẩn nước sinh hoạt, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng vào chính sách phát triển nguồn nước sạch tại Australia.

Rất đam mê kinh doanh nhưng dường như được thừa hưởng lòng nhân ái của người mẹ, ông luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội của mình.

Trong nhiều năm hoạt động trên thương trường, ngoài những chương trình kinh doanh của cá nhân mình, Richard Pratt còn được mọi người biết tới với nhiều hoạt động vì cộng đồng và đóng góp cho xã hội. Richard Pratt đã từng được giao nhiều trọng trách quan trọng như Hiệu trưởng danh dự của trường Swinburne University of Technology; Chủ tịch của Trung tâm khoa học Victorian Arts Centre Trust; Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Mental Health Research Institute of Victoria…Tháng 7/2007, Richard Pratt đã được bầu làm Chủ tịch CLB bóng đá giàu truyền thống của Australia, Carlton Football Club.

Đặc biệt, Richard Pratt và gia đình cũng đã tự thành lập quỹ từ thiện Pratt Foundation nhằm đẩy mạnh các hoạt dộng giúp đỡ người nghèo và các hoạt động từ thiện vì cộng đồng.

Với tài năng, uy tín và những đóng góp cho xã hội, Richard Pratt đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng lớn như giải thưởng Environmental Visionary năm 1998 sau chiến dịch Keep Australia Beautiful Campaign; huân chương danh dự Order of Australia – huân chương danh giá nhất của Australia – năm 1985 và 1998.

( SEMvietnam – Theo Nguoilanhdao)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Làm tổng giám đốc từ tuổi lên…6

Đó là một đứa bé 6 tuổi – nghĩa là còn ở cái tuổi làm nũng, thậm chí có thể vẫn còn tè dầm – biết diện com – lê, cà – vạt, xách ca – táp kèm danh thiếp “tổng giám đốc” để đi giao dịch kiếm tiền!

farrah-7-tuoiCả thế giới biết tên tuổi Farrah Gray, sinh năm 1984, vì chàng thanh niên da đen này đã gặt hái thành công trên nhiều lĩnh vực, từ thực phẩm cho tới phát thanh truyền hình, biểu diễn, nhà đất… Đã nhiều lần Farrah được Tổng thống Mỹ mời đến phát biểu tại Nhà Trắng.

Thần đồng kinh doanh kiếm tiền vì thương mẹ

Nhân vật đặc biệt ấy sinh ra trong một gia đình thuộc hạng người “dưới đáy” xã hội Mỹ – da đen, thất nghiệp, không có bố, một mẹ nuôi 5 con!

Sáu mẹ con Farrah Gray sống nheo nhóc hoàn toàn dựa vào tiền trợ cấp xã hội ít ỏi. Họ trú ngụ trong một căn hộ chung cư dành cho người nghèo ở phía đông thành phố Chicago.

Farrah là út, cha mẹ cậu li dị ngay khi cậu vừa chào đời và ông bố vô dụng không trợ cấp gì cho lũ trẻ. Năm chú bé lên 6 tuổi, bà mẹ mắc bệnh tim rất nặng.

“Buổi tối, khi tôi lên giường thì mẹ còn đang làm việc. Sáng ra khi tôi ngủ dậy cũng thấy mẹ đang làm việc. Chẳng hiểu đêm qua mẹ có ngủ hay không” – Farrah kể.

Thấy mẹ ốm đau mà làm việc quần quật, cậu lo lắm và luôn luôn tự nhủ: “Mình nhất định phải làm gì đấy để giúp mẹ đỡ vất vả. Nhưng mới 6 tuổi thì mình biết làm gì? Ai dám thuê mình làm các việc lặt vặt (vì sợ phạm tội lạm dụng sức lao động trẻ em)”.

Sau nhiều ngày nghĩ ngợi, một ý nghĩ nảy ra trong đầu óc thơ ngây của Farrah: “Đi bán … những hòn đá!” Cậu ra đường nhặt những hòn đá đủ mọi hình thù, đem về rửa sạch, rồi vẽ lên đấy các hình vẽ tự nghĩ ra.

Farrah còn làm lấy những tấm danh thiếp trên viết mấy chữ “Tổng Giám đốc”. Mẹ không có tiền mua ca-táp, cậu dùng hộp cơm bằng nhựa màu đỏ thay thế. Rồi Farrah diện com-lê, thắt chiếc cà-vạt mượn của anh ruột, sau đó xách túi đá và “ca-tap” đi gõ cửa từng nhà trong khu phố.

Farrah kể: “Khi chủ nhà mở cửa, tôi bèn mỉm cười bắt tay họ, chìa danh thiếp, nói: “Hello! My name is Farrah Gray. Would you like to buy this rock? It can be used as paper weights, bookends and doorstopers (Xin chào ông bà! Cháu là Farrah Gray. Ông bà có thể vui lòng mua giúp cháu viên đá này được không ạ? Nó có thể dùng làm cái chặn giấy, chặn sách và chặn cửa được đấy ạ.)

Mọi người ngơ ngác cười : “Ồ, những hòn đá này đầy ngoài đường, nếu cần thì nhặt về dùng, cớ gì phải bỏ tiền ra mua nhỉ?’ Tôi lại nói: ‘Nhưng bây giờ chúng đã khác trước nhiều rồi ạ, xin ông bà xem đây…”.

Vì thương thằng bé lém lỉnh mà có người vui lòng mua thứ “hàng” vô dụng ấy với giá 1,5 đô-la một hòn. Nhờ thế Farrah kiếm được những đồng đô-la đầu tiên.

Tiếp đó chú nhóc lại có sáng kiến mua các loại sữa tắm khác nhau đem về hòa lại thành một loại mỹ phẩm có mùi vị mới lạ rồi lóc cóc mang tới gõ cửa từng nhà bán với giá 1,5 đô-la một chai.

Sau hai lần làm như vậy, Farrah kiếm được 50 đô-la. “Mẹ ơi, tối nay con mời mẹ đi ăn nhà hàng nhé!” – bà Paula Gray vô cùng ngạc nhiên thấy cậu con út 6 tuổi nói với mình như vậy.

Sau hai năm mò mẫm trên thương trường, Farrah kiếm được 1.500 đô-la. Từ năm lên 7 tuổi, Farrah bắt đầu sử dụng tấm danh thiếp in dòng chữ “Tổng Giám đốc thế kỷ 21”.

Bà ngoại Farrah kể: “Mới có 6 tuổi mà khi đi làm chuyện mua bán, thằng bé trông người lớn lắm! Nó diễn thuyết như một diễn giả thực thụ, yêu cầu mọi người phải im lặng nghe nó nói, thế có ghê không !”

8 tuổi lập công ty đầu tư

Năm 1992, Farrah cùng các bạn hàng xóm lập công ty đầu tư, lấy cái tên rất oách là Câu lạc bộ Kinh tế doanh nghiệp ngoại đô (Urban Neighborhood Enterprise Economic Club, UNEEC) ở vùng Nam Chicago.

Farrah đề nghị các chủ hiệu buôn trong khu phố góp tiền, cho mượn ô tô đi lại và nơi họp Câu lạc bộ.

Farrah kể: “Lúc đầu tôi luôn bị người ta từ chối, cứ thấy bóng tôi là họ đóng cửa. Tôi bèn áp dụng Chính sách 5 người (Five-person Policy) và nhờ thế lũ nhóc chúng tôi góp được 15 nghìn đô-la. Chính sách ấy là thế này: Nếu ông bà từ chối thì xin ông bà giới thiệu cho cháu 5 người khác có thể giúp cháu.”

Với số tiền ấy, Farrah lập công ty tiêu thụ bánh quy và tặng phẩm. UNEEC trở thành tiền thân của công ty NE2W do Farrah đứng đầu, đặt văn phòng tại phố Wall, trung tâm tiền tệ lớn nhất thế giới. Xưa nay phố này chưa có chủ văn phòng nào trẻ như Farrah.

12 tuổi trở thành diễn giả tài ba

Năm 1993, bà Paula Gray bốc cả gia đình tới Las Vegas. Tài kinh doanh của chú nhóc Farrah được địa phương này quan tâm. Một đài phát thanh địa phương phỏng vấn chú bé.

Thấy Farrah nói rất hấp dẫn, họ bèn mời cậu chủ trì chương trình phát thanh tối thứ bảy hàng tuần có tên “Đằng sau sân khấu” (Backstage Live) thu hút tới 12 triệu người nghe, sau đó trở thành chương trình phát thanh – truyền hình của Las Vegas rồi tiến tới của toàn nước Mỹ.

12 tuổi Farrah đã tỏ ra là một MC ngôi sao rất có cá tính và năng nổ, hơn cả nhiều người dẫn chương trình khác. Các đài truyền hình, phát thanh và báo chí tranh nhau mời cậu đi nói chuyện hoặc dẫn các show.

Mỗi buổi diễn thuyết của Farrah được trả từ 5000 đến 10.000 đô-la. Farrah còn tham gia kinh doanh thẻ điện thoại trả trước KIDZTEL, vận chuyển thư tín One Stop Mail Boxes & More, phụ trách chương trình phát thanh Youth AM/FM.

Farrah kể: “Điện thoại của tôi suốt ngày réo chuông. Người ta hỏi tôi lập CLB đầu tư đầu tiên của mình ra sao, do đâu mà trở thành MC giỏi thế. Họ đề nghị: ‘Cháu hãy đến kể lại cho mọi người nghe về thành công của cháu đi. Có một tấm séc đang chờ cháu đấy!”

Hàng chục đài phát thanh và truyền hình địa phương và trung ương mời Farrah dự các show của họ. Cậu trở nên nổi tiếng khắp nước.

14 tuổi kiếm được triệu đô-la

dr_farrah_gray_2007_speaker Farrah thường hay vào bếp xem bà làm các món ăn và học cách làm. Từ đó cậu nảy ra ý nghĩ lập công ty thực phẩm. Đó là công ty Farr-Out Foods do Farrah lập ra năm cậu 13 tuổi, chuyên cung cấp các món ăn khoái khẩu cho lũ trẻ con.

Farrah kể: “Tôi vừa đọc sách hướng dẫn kinh doanh vừa mày mò điều hành việc kinh doanh của công ty.” Không ngờ công ty có rất nhiều đơn đặt hàng, nhất là sau khi đưa ra món xi-rô dâu pha va-ni rất thơm ngon, chế biến theo công thức của bà ngoại Farrah.

Dựa vào Farr-Out Foods cùng các khoản kinh doanh khác, Farrah có thu nhập 1 triệu đô-la khi cậu sang tuổi 14, trở thành nhà triệu phú tự tay làm nên, tức “Reallionaire”. Cậu bé tậu cho mẹ một căn nhà rộng rãi lịch sự tại thành phố Las Vegas nổi tiếng thế giới về các trò ăn chơi xa hoa.

Sau hai năm hoạt động, Farrah bán công ty Farr-Out Foods được 1,5 triệu đô-la. Không thỏa mãn với những gì đạt được, Farrah 15 tuổi tiếp tục nâng cao kiến thức kinh doanh bằng cách bỏ ra ba năm tham gia ban Giám đốc công ty United Way miền Nam bang Nevada và trở thành người trẻ nhất trong lịch sử bang này khi tham gia Ban Cố vấn Phòng Thương mại Las Vegas.

Cậu cũng là thành viên trẻ nhất của “Hội nghị Bàn tròn ban lãnh đạo người Mỹ gốc Phi” do Tổng thống G. Bush lập ra. Farrah là Chủ nhiệm Văn phòng Nhà Trắng của tổ chức “Sáng kiến tập thể niềm tin”, là phát ngôn viên của “Liên minh toàn quốc người vô gia cư” và “Chương trình hiến tủy toàn quốc” cùng nhiều hoạt động xã hội khác.

Farrah đầu tư vào tập đoàn truyền thông InnerCity – doanh nghiệp lớn nhất do người da đen lãnh đạo ở Mỹ và phụ trách tờ tạp chí cùng tên của doanh nghiệp ấy.

20 tuổi – chia sẻ kinh nghiệm thành công

khi-truong-thanhNăm 2004, tác phẩm đầu tay của Farrah ra đời: “Chín bước từ tay trắng trở thành giàu có” (Reallionaire: Nine Steps to Becoming Rich from the Inside Out).

Cuốn sách này được tổ chức Giải thưởng Quill NBC đề cử tặng thưởng cho thể loại sách tự tu thân và là sách bán chạy năm ấy.

Trong sách, anh kể lại cho mọi người biết các kinh nghiệm trên con đường làm giàu: – yêu quý thanh danh của mình; – không bao giờ sợ sự khước từ của người khác; – xây dựng nhóm tư vấn của mình; – nắm bắt mọi dịp làm ăn, chớ bỏ qua; – theo trào lưu của thiên hạ nhưng phải có mục tiêu riêng; – chuẩn bị sẵn về tâm lý chờ đón thất bại; – chịu khó bỏ thời gian vào học tập, đọc sách báo; – yêu quý khách hàng của mình…

drfarrahgrayspeakingFarrah Gray nói cậu tin vào hai thời điểm quan trọng nhất trong đời người, một là giờ sinh của mình và một là khi nào hiểu được “vì sao mình lại sinh ra”.

Tuy còn trẻ nhưng Farrah đã hiểu rõ nghĩa vụ đối với xã hội của một doanh nhân thành đạt. Anh góp ý cho Bộ Thương mại Mỹ lập trường đào tạo doanh nhân trẻ.

Anh lập Quỹ Farrah Gray để giúp vốn cho các doanh nhân trẻ dưới 25 tuổi và quyên góp vào đấy tất cả số tiền nhuận bút cuốn sách của mình.

Farrah còn viết cho thể loại sách “Chicken Soup for the African-American Soul”, một xê-ri sách giáo dục thiếu niên rất được ưa đọc ở Mỹ. Do có ý thức tập thể cao như vậy nên Farrah được báo chí gọi là “Một trong những doanh nhân đáng kính và hiếm thấy”.

Tiểu sử Farrah Gray được ghi trong Sách Danh Nhân Mỹ năm 2005 (Who’s Who in America 2005), tức danh sách những người nổi tiếng và thành đạt của nước Mỹ năm 2005.

Farrah còn trẻ mà đã thành đạt lớn và giành được lắm vinh dự cao quý như trên, đó là vì anh luôn luôn có tinh thần hăng hái tiến lên và có những thói quen rất tốt.

Thành công của Farrah Gray đã làm thay đổi cách nghĩ của nhiều người Mỹ, nhất là tầng lớp nghèo người da đen. Họ học hỏi các kinh nghiệm của anh để vươn lên làm giàu, vươn lên tham gia các hoạt động chính trị-xã hội bất chấp hoàn cảnh khó khăn của mình.

Và ngày càng có nhiều người da đen Mỹ gặt hái thành công, biến “Giấc mơ Mỹ” thành hiện thực.

( SEMvietnam – Nguồn tin: Tuần Việt Nam)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

SEO – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên Internet, cuộc chiến giành vị trí cao trên bảng xếp hạng của các công cụ tìm kiếm là điều vô cùng quan trọng.

Giả sử bạn là 1 trong 100 triệu trang web trên thế giới. Vậy bạn làm thế nào để trang web của mình có thể dễ dàng được tìm thấy. Yếu tố quan trọng là thông qua các công cụ tìm kiếm, hiện chiếm đến 60% các đường dẫn đến các trang thông tin quan trọng.

Xem chi tiết

SEM là gì ?

SEM Là từ viết tắt của Search Engine Marketing, SEM hiển nhiên có liên quan nhiều đến marketing. SEM chính là sự tổng hợp của nhiều phương pháp marketing nhằm mục đích giúp cho website của bạn đứng ở vị trí như bạn mong muốn trong kết quả tìm kiếm trên internet.

Thành Phần Của SEM:

1. SEO ( Search Engine Optimization ): Tối Ưu Hóa Công Cụ Tìm Kiếm.

Tối ưu hoá công cụ tìm kiếm là phương pháp bạn làm tăng thứ hạng của mình thông qua cách bạn xây dựng cấu trúc website như thế nào, cách bạn biên tập và đưa nội dung vào trang web, sự chặt chẽ, kết nối với nhau giữa các trang trong site của bạn (links)…

Xem chi tiết

SEO – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên Internet, cuộc chiến giành vị trí cao trên bảng xếp hạng của các công cụ tìm kiếm là điều vô cùng quan trọng.

Giả sử bạn là 1 trong 100 triệu trang web trên thế giới. Vậy bạn làm thế nào để trang web của mình có thể dễ dàng được tìm thấy. Yếu tố quan trọng là thông qua các công cụ tìm kiếm, hiện chiếm đến 60% các đường dẫn đến các trang thông tin quan trọng.

Vậy chính xác SEO là gì?

SEO – Search Engine Optimisation (Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm) là một quá trình làm nội dung trang web dễ dàng được các công cụ tìm kiếm tìm thấy, và hiển thị.

Hầu hết người dùng Internet sử dụng các công cụ tìm kiếm hàng ngày và có thể chỉ nhìn vào trang đầu tiên của kết quả tìm kiếm. Vì thế nếu như một khách hàng đang tìm kiếm trang web của bạn, và bạn vô tình bị xếp ở trang thứ hai của kết quả tìm kiếm, sẽ ít có khả năng khách hàng ghé thăm trang của bạn.

Làm thế nào để Google quyết định thứ tự trên trang kết quả tìm kiếm?

Google sử dụng hơn 200 các đánh giá nội dung website để quyết định thứ tự của kết quả tìm kiếm và những thuật toán chính xác này là một bí mật – điều tương tự cũng xảy ra đối với các công cụ tìm kiếm của Yahoo hay Microsoft. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn được tách biệt giữa các yếu tố nằm trên trang web như văn bản thực tế và nội dung, và các yếu tố nằm ngoài trang web bao gồm số lượng các đường link từ bên ngoài đến các website đó.

Vậy làm sao để trang web được các công cụ tìm kiếm để mắt tới?

Google công khai các hướng dẫn SEO của mình. Đầu tiên, hãy chắc chắn rằng trang web của bạn được công cụ tìm kiếm biết đến, điều này có nghĩa là có một “con nhện” tự động bò trên nội dung trang web của bạn và đưa nó vào trong bản đồ.

Từ đó, việc tối ưu hóa phụ thuộc vào việc kết hợp giữa công tác biên tập và kỹ thuật. Về cơ bản, nội dung, đặc biệt là tiêu đề cần phải mô tả được nội dung, sử dụng những từ khóa mà khách hàng thường dùng. Một số trang web có thể cố gắng để “lừa” Google, hoặc bằng cách tải các trang web với quá nhiều các từ khóa không liên quan, hoặc thông qua các trang trung gian có các đường link mà không mang nội dung nào cả.

Có phải trả tiền để được xếp hạng cao ở các trang tìm kiếm?

Bạn có thể trả tiền cho các trang web tài trợ (sponsor link), nhưng đó là cách khá đắt đỏ để có được khách hàng, đặc biệt nếu như bạn có rất nhiều khách hàng ghé thăm. SEO tập trung vào việc tác động đến danh sách kết quả tìm kiếm có hệ thống.

Bạn có thể trả tiền cho một chuyên gia SEO để khuyên mình làm thế nào để tăng thứ hạng của mình, nhưng bạn không thể trực tiếp trả tiền cho Google để được xuất hiện ở thứ hạng cao.

SEO đang là một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, ước tính khoảng 2,22 tỷ bảng anh chỉ riêng ở Anh năm ngoái.

Liệu có còn công cụ tìm kiếm nào tương tự như vậy không?

Tại Anh, Google, Yahoo và Ask là những công cụ tìm kiếm được sử dụng phổ biến nhất. Nhưng theo tạp chí Hitwise, trong tháng 4 vừa qua, khoảng 87,69% lượt tìm kiếm tiến hành tại Anh là thông qua trang Google.com hoặc Google.co.uk – một thị phần khổng lồ.

Liệu các trang web quảng cáo có lợi thế hơn trong việc nâng cao thứ hạng của mình?

Tharien Pieterse, giám đốc công cụ tìm kiếm của hãng Media Contacts cho biết khách hàng đã bắt đầu bị thu hút vào SEO trong hai năm vừa qua.

Bà nói: “Đây là hoạt động trung tâm trong số các hoạt động truyền thông. Bởi vì hầu hết các kênh đều hướng mọi người đến việc tìm kiếm những thương hiệu này, những câu khẩu hiệu, và việc khuyến mại”.

Một phần quan trọng của SEO là xác định từ khóa và lặp lại chúng trong các đề mục, các đoạn mở đầu và trong địa chỉ trang web. Các đường link đến với những bài khác từ trang chủ cũng có tác dụng. Bởi vì trang chủ thường được các công cụ tìm kiếm biết đến nhiều hơn. Ảnh và video cần được đính kèm với các từ khóa liên quan để được công cụ tìm kiếm tìm thấy.

Liệu việc quá phụ thuộc vào một công cụ tìm kiếm có quá nguy hiểm không?

Mạo hiểm hơn là việc khi mà các công cụ tìm kiếm sửa đổi các tiêu chuẩn tìm kiếm của mình, giống như việc trang GoCompare đã phát hiện ra trong năm nay. Trang web so sánh giá bảo hiểm xe hơi chỉ trong một đêm đã rớt khỏi trang kết quả số 1 xuống trang số 7 với từ “bảo hiểm xe hơi”, điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của họ.

Có ý kiến cho rằng Google đã phạt GoCompare vì nghi ngờ hành động mua các đường link – một hành động mà Google luôn phản đối.

(www.semvietnam.com -  Theo VTC News)

SEO là gì ?

Trong xã hội ảo, thương hiệu không quan trọng bằng việc xuất hiện đầu tiên trong kết quả tìm kiếm của các bộ máy tìm kiếm, đặc biệt là Google.

Nhu cầu quảng bá trên các web tìm kiếm

Thống kê cho thấy 80% số người dùng Internet thường xuyên sử dụng công cụ tìm kiếm.

Khoảng 73% người dùng Internet tại VN thường xuyên truy cập vào trang web tìm kiếm Google. Ảnh: Thanh Hải

Đây là các chỉ số giúp cho quảng cáo trực tuyến, đặc biệt là quảng cáo qua công cụ tìm kiếm, ngày càng lấn sân những loại hình quảng cáo truyền thống trên thế giới. Tại Việt Nam, theo khảo sát của Công ty cổ phần kết nối truyền thông Việt Nam (VinaLink), có khoảng 73% người dùng Internet thường xuyên truy cập vào trang web tìm kiếm Google so với 13% truy cập vào trang Yahoo.

Doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đã nhận ra điều này và mua quảng cáo của các công cụ tìm kiếm ngày càng nhiều, đặc biệt là dịch vụ quảng cáo Adwords của Google. Dễ dàng kiểm chứng điều này bằng cách vào Google, gõ một số từ khóa phổ biến như “sách”, “du lịch” hay “nha khoa” thì ngay bên phải trang web tìm kiếm sẽ thấy xuất hiện các nhà cung cấp liên quan.

Bên cạnh việc sử dụng dịch vụ quảng cáo trên các bộ máy tìm kiếm như Adwords của Google hay Yahoo Marketing của Yahoo, nhiều doanh nghiệp còn có nhu cầu nữa là đứng trong tốp đầu các trang liệt kê kết quả tìm kiếm của công cụ tìm kiếm. Giới chuyên làm quảng bá trang web gọi đó là dịch vụ SEO (Search engine optimization – SEO).

SEO là quy trình tối ưu hóa tìm kiếm web nhằm tăng lượng truy cập đến trang web từ các bộ máy tìm kiếm. Mục tiêu của SEO là đưa trang web lên hàng đầu trong kết quả tìm kiếm theo một số từ khóa cụ thể. Ví dụ, với các công ty du lịch lữ hành, mục tiêu làm SEO là khi khách hàng tra từ khóa liên quan đến du lịch như Vietnam travel thì trang web của công ty đó phải xuất hiện trong top đầu của kết quả tìm kiếm. Tuy nhiên, SEO không giới hạn trong tìm kiếm text mà còn trong tìm kiếm ảnh, sách, nhạc và các tìm kiếm ngành dọc khác.

Theo một số doanh nghiệp, thị trường tư vấn SEO tại Việt Nam vẫn dừng ở giai đoạn đầu nhưng tương lai sẽ phát triển nhanh cùng với bước tiến mạnh mẽ của dịch vụ trực tuyến.

Ông Hà Tuấn Anh, Giám đốc Vinalink cho biết công ty bắt tay làm dịch vụ SEO từ 2002. Ban đầu, khách hàng chủ yếu là công ty du lịch lữ hành, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và đá quý hoặc người làm quản trị web. Nhưng hiện nay, do lượng người dùng Internet và số trang web ngày càng nhiều, mức cạnh tranh cao nên SEO cũng được quan tâm hơn. Nhiều công ty kinh doanh máy tính, các văn phòng luật, nha khoa, thám tử, dịch vụ diệt mối, côn trùng…, thậm chí có một trang web của ủy ban nhân dân tỉnh đã tìm đến SEO. Thương mại điện tử cũng bắt đầu có khách hàng, nhất là giao dịch B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp). Gần đây, mỗi tháng VinaLink có thêm vài khách hàng, thời gian trước thì ít hơn nhiều.

Trên Internet, SEO hơn cả “thương hiệu”

Trong xã hội ảo, những trang web xuất hiện đầu tiên trong kết quả tìm kiếm có cơ hội thu hút được nhiều người tìm kiếm truy cập vào hơn. Vì vậy, nếu làm SEO tốt thì sẽ tăng được lượng người truy cập từ các trang web tìm kiếm.

Thậm chí, một chuyên gia quảng cáo web cho rằng: “Trên Internet, thương hiệu không là gì cả. Xuất hiện cao trên kết quả tìm kiếm mới quan trọng. Nếu công ty bạn không có mặt trong 3 trang đầu tiên của Google, bạn chả là gì cả”.

Thống kê trên thế giới, khoảng 70% người tìm kiếm không xem hết quá trang đầu, 97% không xem tới trang thứ 3. Ở Việt Nam, theo khảo sát của VinaLink, khoảng 50% lưu lượng vào các trang web do Google đem lại. Vì vậy, không ngạc nhiên khi dịch vụ SEO ở Việt Nam chủ yếu là trên Google. Hiện có khá nhiều công ty cung cấp dịch vụ SEO như Squangcao.com, Onboom, OntopRank hay VinaLink.

Chi phí làm dịch vụ SEO trên Google khá tốn kém, từ vài triệu đồng đến vài chục triệu đồng tùy theo trang web và từ khóa. Có lĩnh vực như du lịch, hiện các công ty làm dịch vụ SEO không dám nhận làm SEO các từ khóa về du lịch, vì có quá nhiều trang web chen nhau ở một số từ khóa.

Theo ông Hà Tuấn Anh, những trang web đã duy trì lâu, có nhiều người truy cập và tốc độ cập nhật thông tin thường xuyên thì làm SEO rất nhanh, có hiệu quả sau khoảng 1 tuần. Còn những trang ít người truy cập, thông tin thiếu cập nhật thì có khi mất tới 1 – 2 năm mới tăng thứ hạng. Ngoài ra, việc tăng thứ hạng trong kết quả tìm kiếm cũng phụ thuộc vào tên miền. Nếu mục tiêu là quảng bá quốc tế thì nên chọn tên miền .com, còn nếu nhắm vào khách hàng trong nước thì ưu tiên tên miền .com.vn hay .vn.

Theo ICTnews