Xác định “mật mã” người khách hàng

Thái độ sống chuẩn mực phải theo quy tắc đối xử với mọi người theo cách chúng ta mong được đối xử. Khi bước vào thế giới kinh doanh, chúng ta lại được học thêm một nguyên tắc vàng khác là đối xử với mọi khách hàng theo đúng như cách học thích được đối xử. Toàn tâm phục vụ theo ý khách hàng thì mọi cố gắng của bạn sẽ biến thành lợi nhuận.

Trong giai đoạn kinh doanh cạch tranh hiện nay, những ai làm công việc tiếp thị còn phải tuân thủ thêm một nguyên tắc mới: Lôi kéo khách hàng thâm nhập vào quá trình bán hàng và thúc đẩy họ tiếp xúc với mình.

Làm thế nào để nhận ra người khách lần đầu tiên bạn tiếp xúc thuộc mẫu người nào trong nhiều dạng khách hàng khác nhau, để từ đó đưa ra cách ứng xử phù hợp nhằm giữ chân họ? Khi một khách hàng tiếp xúc với bạn qua điện thoại, email hay chỉ với một lời comment trên blog, website, bạn nên vui mừng.

Đây là bước đi dễ dàng nhất để bạn ” khám phá” ra “mật mã” riêng của từng cá nhân ấy. Hãy tìm kiếm những điều chính yếu bên trong ngôn từ họ sử dụng và cách họ trò chuyện để biết họ ưa thích thứ gì bạn đang có và có cách ứng phó. Dù có hàng trăm người tìm đến với bạn, nhưng trên thực tế, họ chỉ có thể là một trong bốn nhóm hàng sau đây:

Nhóm người dạo giá: Nếu cách tiếp xúc của họ mang tính trực tiếp, thể hiện rõ mối quan tâm dành cho giá cả, kết quả kinh doanh và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), thì đó chính là mẫu người dạo giá (thường chiếm khoảng 18% số khách hàng trên toàn cầu). Điều bạn nên làm là trả lời với họ theo hướng đi thẳng vào vấn đề, bằng cách đáp lại ngay những gì họ muốn nghe và nếu vừa ý họ sẽ đưa ngay quyết định mua bán với bạn.

Hãy lưu ý rằng thời gian, tính hiệu quả và số liệu là những gì khiến họ đam mê. Do đó, trên email hay qua điện thoại, tuyệt đối tránh những lời văn rườm rà và dài dòng để tránh ngăn chặn sự hứng phấn của họ đối với các sản phẩm của bạn.

Lời khuyên: Để đủ sức chinh phục họ, việc đưa ra những biểu đồ, cột mẫu so sánh, đánh giá điểm số giữa sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn với các công ty khác sẽ tạo nên những ấn tượng mạnh.

Nhóm người ảnh hưởng: Trong số 100 lượt khách hàng tìm đến với bạn sẽ có 28 người thuộc nhóm này. Họ có cách thức tiếp xúc với nhiều câu văn lời nói, thái độ thân mật và sử dụng nhiều thán từ cảm xức trong khẩu ngữ. Dạng khách hàng này hoàn toàn có thể giúp bạn thu lợi nhuận khi bạn phục vụ họ thật tốt.

Do đó, bạn cần tỏ lại thái độ cởi mở, trò chuyện duyên dáng và cuốn hút, đặc biệt chú ý đến những điều họ quan tâm khi họ và bạn làm việc với nhau. Không cần đi quá sâu vào chi tiết, mà nên cung cấp hẳn một danh sách liệt kê những lợi ích khi sử dụng sản phẩm của bạn. Một khi họ đã tin dùng sản phẩm của bạn, họ sẽ tạo nên ảnh hưởng đối với người thân, bạn bè với lý lẽ rất thuyết phục.

Lời khuyên: Hãy sử dụng các phương tiện truyền thông như video clip trên website của bạn để tạo sự lôi cuốn mạnh mẽ hơn và cũng để họ quay lại thường xuyên hơn.

Nhóm người vững vàng: Nếu họ giao thiệp với bạn bằng những câu hỏi dài dòng, sẵn lòng chia sẻ cả một câu chuyện và cố gắng tìm kiếm thật nhiều thông tin từ bạn, thì xem ra, bạn đang chiếm được sự quan tâm từ người khách hàng vững vàng, chiếm đến 40% lượng khách hàng mà bạn gặp gỡ. Đánh mất những cá nhân này đồng nghĩa với việc bạn để vuột mất một lượng lớn những người hâm mộ trung thành nhất. Vì thế, hãy luôn tỏ ra nồng hậu và sẵn sàng trò chuyện với họ.

Lời khuyên: Một cuộc gọi điện thoại, một lá thư điện tử mang tính cá nhân sẽ gây ấn tượng với họ.

Nhóm người thuận ý: Chiếm 14% số khách hàng bạn thường xuyên tiếp xúc, nhóm khách hàng chuộng lối trò chuyện rõ ràng, kỹ tính, hỏi rất nhiều các dữ liệu, bằng chứng để xác nhận cho những lời giới thiệu của bạn. Nhiệm vụ của bạn là cung cấp cho họ thật nhiều thông tin có giá trị để giữ chân họ. Hãy luôn bám sát vào những thông tin thực tế và tuân theo những quy tắc kinh doanh của mình thì sẽ lấy được lòng họ.

Lời khuyên: Giới thiệu với họ lời nhận xét của những vị khách hàng trước đây từng sử dụng sản phẩm của bạn một cách thật chi tiết để xoá bớt những hoài nghi trong họ. Nếu có thể, hãy gửi đến họ những báo cáo nghiên cứu chi tiết thúc đẩy họ quyết định mua hàng.

(SEM Vietnam -Theo Doanhnhan360)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png


Những bài học về bán hàng

Bán hàng, ngày nay không chỉ đơn thuần là hành vi đưa hàng ra thu tiền về. Đó là quá trình từ quảng cáo tiếp thị để khách hàng biết đến sản phẩm, làm quen với sản phẩm… Người bán hàng thành công là người khiến khách hàng gắn bó với bạn mãi mãi.

Hãy quan tâm tới thượng đế

Ở Mỹ, có một người bán ô tô lừng danh tên là Guillard. Ông nổi tiếng trong giới bán xe hơi vì vượt qua nhiều đại lý khác về lượng xe bán ra hàng năm. Mỗi năm Guillard bán được 14.000 chiếc xe hơi. Một lần có một vị khách đến mua xe. Guillard đã giới thiệu với ông ta một mẫu xe mới. Cuộc trao đổi diễn ra suôn sẻ và sắp đi tới thỏa thuận. Bất chợt khách đổi ý không mua nữa. Guillard nghĩ mãi không hiểu tại sao. Ông liền căn cứ cavidít của vị khách và tìm đến nhà để hỏi rõ.

Thấy sự chân thành cầu thị ở người bán hàng, vị khách nói thực: “Tôi quả thật định mua xe. Nhưng trước khi ký ngân phiếu tôi có kể cho anh nghe về con trai tôi. Cháu sắp tốt nghiệp đại lọc Kỹ thuật Michigan và là cầu thủ bóng chày nổi tiếng ở trường.Tôi hào hứng kể vì đó là niềm tự hào của tôi. Nhưng anh chẳng nghe tôi nói lại còn quay ra cười đùa với những người khác. Tôi rất bực mình vì dường như anh không quan tâm tới tôi nữa mà chỉ quan tâm tới việc bán được xe của anh mà thôi.” Guillard lặng người. Hóa ra chỉ vì thiếu sự quan tâm chia sẻ niềm vui của khách mà anh bỏ lỡ một cơ hội.

Từ đó Guillard rút ra bài học kinh nghiệm về tâm lý chăm sóc quan tâm tới khách. Chính nhờ vậy anh trở thành một người bán hàng nổi tiếng ở Mỹ.

Câu chuyện về người bán ô tô giỏi nhất nước Mỹ cho ta một lời khuyên: hãy quan tâm chia sẻ với người mua – những Thượng đế của cửa hàng bạn.

Bài học của ông chủ Sanyo

Ở cửa hàng luôn có khách đến, có thể họ mua hàng, có thể không mua. Người bán hàng giỏi là người khiến khách hàng dù chưa có ý định mua gì cũng phải móc hầu bao. Hơn thế còn có thể tìm hiểu được nhu cầu, tình hình giá cả nếu chịu khó trò chuyện với khách. Câu chuyện dưới đây của lshoko, giám đốc Công ty điện tử SANYO của Nhật là một ví dụ điển hình.

Một lần Ishoko đến một cửa hàng bán lẻ của công ty ở gần nhà trò chuyện xã giao với chủ hiệu cũng là để tìm hiểu chuyện buôn bán.

Đang trò chuyện thì có một chú bé nhà gần đó đến mua một chiếc bóng đèn. Chủ hiệu lấy ra một chiếc bóng đèn, đưa vào máng thử, bóng đèn sáng, nhận tiền và đưa hàng cho chú bé rồi quay sang với lshoko than vãn chuyện buôn bán khó khăn. lshoko hỏi chủ quán: – Chú bé vừa rồi con ai? – Tôi không rõ nó là con nhà ai. Nhưng chắc là ở gần đây thôi. – Tôi cũng nghĩ là ông trả lời như vậy. Tại sao ông không hỏi nó cần mua gì nữa không và giới thiệu hàng của mình. – Ôi dào, tôi chẳng bán bóng điện đó thôi, nó cần gì thì đã hỏi.

Ishoko lắc đầu. Chủ quán thấy vậy hỏi: Ông có điều gì xin chỉ giáo. Tôi cũng không biết phải làm gì nữa.

Chỉ chờ có vậy Ishoko đáp:

- Chỉ giáo e tôi thất lễ. Nhưng nếu tôi ở địa vị của ông, tôi sẽ báo: Cháu bé trông ngoan quá, nhà gần đây phải không? cháu học lớp mấy rồi mà trông lớn quá. Chắc chắn cậu bé ấy sẽ trả lời. Tôi sẽ hỏi tiếp về gia cảnh. Sau này nếu có gặp người nhà cậu bé hoặc đến nhà họ chào hàng ta có thể tự giới thiệu: “Tôi là người ở cửa hàng điện khí gần nhà, hôm rồi bán bóng điện cho con trai ông bà. Không biết bóng đèn ấy dùng tốt không?. Nếu câu chuyện cởi mở có thể đưa đẩy thêm: “Nghe nói ông bà còn cô lớn xinh xắn nết na lắm. Khi nào cháu lấy chồng ông bà nhớ đến chỗ tôi mua máy giặt, tủ lạnh nhé…”

Ông chủ hiệu nghe lshoko cứ há miệng ngạc nhiên: hay quá, hay quá thế nào tôi cũng vận dụng thử cách ông dạy.

Ishoko tiếp tục: ngày nay không gia đình nào ở Nhật không có ti vi màu, nhưng những thế hệ máy ra sau tiết kiệm điện hơn, độ phân giải cao hơn, ta có thể nói với chủ nhà: “Gia đình ta xài ti vi màu phải không, ăng ten ti vi nhà mình dựng sớm nhất khu này đấy.”

“Sớm nhất” hay không chỉ là thứ yếu nhưng người nghe sẽ thích thú hơn.

“Ông bà thử xem ti vi này đi, thế hệ mới đấy. Cái ti vi nhà mình dùng mua trước đây xài tới 300kw/h còn cái loại này chỉ 100kw/h mà độ nét cao hơn đấy”. Nếu đối phương có vẻ thích thú thì mời luôn “Để tôi mang một chiếc mới đến ông bà dùng thử, trả tiền sau cũng được, chỗ hàng xóm với nhau ý mà …”

Ishoko nói với ông chủ hiệu: chỉ cần mình ít quan tâm đến khách hàng, đến công việc của mình là có thể nghĩ ra khối cách để khách mua hàng dù trước đó họ chưa định mua. Khách vào đây có người đã có sẵn ý định mua hàng, có người còn chưa định. Nếu họ chưa mua thì ta có thể hỏi: “phải chăng cửa hàng còn thiếu sản phẩm khách mua? Hay tại giá cả chưa phù hợp. . .”

Ít nhất cũng nắm được tình hình nhu cầu và thị trường. Nếu khách nói hàng họ cần mà ta chưa có thì hẹn họ hôm sau để báo công ty chuyển hàng về, nếu giá cả chưa phù hợp thì cũng báo để phòng kinh doanh xem xét . . .

Ông chủ hiệu nghe xong như bừng tỉnh: đúng là hay thiệt. Thực hiện như ông dạy nếu không bán được hàng cũng nắm thêm nhu cầu để mở rộng mặt hàng kinh doanh.

Bài học của Ishoko được nhiều cửa hàng ở Nhật vận dụng. Các nhân viên đua nhau quan tâm hỏi han tranh thủ sự đồng thuận và tình cảm của khách. Nhờ vậy họ luôn mở rộng kinh doanh và bán được hàng.

Hồ sơ của KANEBO

Câu chuyện mà tôi kể dưới đây sẽ giúp bạn hiểu được các công ty lớn thành công nhờ những biện pháp bán hàng như thế nào.

Tháng 4 năm ngoái, con gái tôi đang ở Vũng Tàu gọi ra:

- Bố đến cửa hàng Kanebo ở Vincom mà hồi Tết bố con mình đến mua kem dưỡng đấy.

- Có chuyện gì?

- Thì bố cứ qua xem.

Tôi đến gian hàng của hãng mỹ phẩm Kanebo tại tòa nhà Vincom. Cô nhân viên tên Hà đón tôi và hỏi

- Bác đến…

- Tôi là phụ huynh em M

- À! Cháu nhớ rồi, hồi Tết bác cùng con gái đến mua hàng ở chỗ cháu. Tháng 4 là tháng sinh nhật của chị ấy, công ty cháu có món quà chúc mừng sinh nhật.

Tôi ngớ ra nhưng thầm phục cách giữ khách hàng của công ty này. Hồi Tết con gái tôi về nghỉ Tết. Hai cha con tôi rủ nhau đi Vincom và ghé vào Kanebo. Con gái tôi chọn mua ở đây một số kem tẩy, dưỡng, chống nắng. Lúc chọn hàng sau khi đã được tư vấn và do độ ẩm, độ dầu của da và mồ hôi, cô bán hàng lấy ra một tờ giấy hỏi con gái tôi các chi tiết về nhân thân, số nhà, điện thoại, các thông số về da, tóc, mắt… Lúc đó tôi đã nói đùa “Bán hàng chứ có gì đâu mà thiết lập hồ sơ như hình sự vậy”. Cô bán hàng mỉm cười “Dạ! Chúng cháu lập hồ sơ để nắm tình hình khách hàng phục vụ cho chế độ hậu mãi ạ”.

Bây giờ thì tôi hiểu rõ tác dụng của việc ghi chép của Công ty Kanebo. Công ty tặng quà nhân dịp sinh nhật của khách, cũng là một cách duy trì sợi dây trên hệ với khách hàng. Đương nhiên, khi khách đến nhận quà tặng cũng là dịp để nhân viên công ty giới thiệu sản phẩm mới, những chương trình khuyến mại của công ty.Và đương nhiên hôm đó tôi đã mua thêm một số sản phẩm cho con gái.

Kanebo là một tập đoàn mỹ phẩm nổi tiếng của nhật. Ở Nhật, một tập đoàn khác là Shiseido cũng có nhiều biện pháp chăm sóc khiến khách khi đã mua hàng của công ty là gắn bó mãi.

Ba câu chuyện mà chúng tôi nêu trên nói về ba cung cách bán hàng của ba công ty. Những kinh nghiệm cũng như những bài học từ chuyện phục vụ của họ hy vọng sẽ làm thay đổi cách nhìn về việc bán hàng – đó không chỉ thuần túy là một hành vi đưa hàng thu tiền, đó là một quá trình chăm sóc khách hàng qua đó có được những khách hàng gắn bó giúp cho sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.

(SEM Vietnam -Theo Doang nhan360)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Sáng tạo những dịch vụ mà khách hàng muốn

Ngày nay, việc sáng tạo ra các dịch vụ mới vừa có khả năng giữ chân khách hàng vừa tạo ra lợi nhuận quả thật gian nan khi mà khách hàng luôn có vô số lựa chọn và được vô vàn các nhà cung cấp và kênh phân phối chào mời.

Vì vậy, muốn nắm thế thượng phong trong cuộc chơi với nhiều đối thủ nặng ký, các nhà quản lý với nhiệm vụ tạo ra dịch vụ gắn bó mật thiết với nhu cầu của khách hàng cần phải:

* Xác định ngày càng chính xác dịch vụ có khả năng thắng lớn trên thị trường
* Nhanh chóng ưu tiên một cách hiệu quả các ý tưởng và khoản đầu tư có triển vọng hơn cả
* Phát triển sản phẩm với vô số giá trị không thể thiếu với khách hàng
* Tiến hành chiến lược đã lựa chọn lanh lẹ hơn

Khi khảo sát nhiều công ty thuộc lĩnh vực dịch vụ trên toàn thế giới, chúng tôi đã rút ra 4 cách giúp các nhà quản lý phát triển và triển khai những ý tưởng kinh doanh “lợi hại” trong lĩnh vực dịch vụ.

1. Phát triển dịch vụ gắn kết với thị hiếu người dùng thay vì nền tảng công nghệ đơn thuần

Ở hầu hết công ty, người có tiếng nói quyết định nhất đối với hoạt động sáng tạo chính là đội ngũ kỹ sư. Thế nhưng, nếu lấy yếu tố công nghệ làm đầu thì chúng ta sẽ tạo ra các dịch vụ hoặc khác xa yêu cầu của khách hàng, hoặc khó sử dụng, hoặc chi phí phát triển quá đắt đỏ. Nếu bỏ qua thị hiếu khách hàng mà chỉ chú trọng tới yếu tố công nghệ, bạn sẽ giống như công ty đã phát triển sản phẩm Creative Technology’s Normad: ngậm ngùi nhìn sản phẩm của mình chết yểu khi bị iPod – một sản phẩm hợp thị hiếu của Apple – đè bẹp.

Hỡi các nhà kinh doanh, thời đại mới buộc chúng ta phải thay đổi tư duy kinh doanh. Giờ đây, các ý tưởng kinh doanh hướng tới thị hiếu của khách hàng đã lên ngôi. Vậy làm sao để dịch vụ của bạn đánh trúng thị hiếu khách hàng? Muốn chạm tới nhu cầu thầm kín và chưa được thoả mãn của khách hàng, bạn có thể tham gia các diễn đàn trực tuyến – nơi có các bài bình luận phân tích, chia sẻ kinh nghiệm của những người dùng tinh tế để từ đó, xác định xu hướng tiêu dùng trong thời gian tới của nhóm khách hàng đông đảo hơn.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu các nghiên cứu về những hoạt động hướng tới người tiêu dùng nổi trội ở các nước phát triển cùng những phân tích về các khoản đầu tư cho sản phẩm đã được tiến hành trong những ngành có liên quan. Khi kết nối tất cả những phân tích đó, các nhà quản lý sẽ đưa ra được những dự đoán chính xác hơn về các giá trị và các sản phẩm có cơ hội thành công lớn.

2. Ưu tiên những ý tưởng dựa trên các tiêu chí kinh doanh sắc sảo thay vì tư duy cảm tính

Ở giai đoạn ban đầu, nếu chỉ dựa vào những phương pháp giành ưu tiên sơ khai để sàng lọc ra ý tưởng mới phù hợp giữa vô vàn các ý tưởng, chúng ta rất dễ đầu tư dàn trải và trì hoãn thời gian tung dịch vụ ra thị trường. Vì vậy chúng ta hãy quyết định dựa vào các tiêu chí kinh doanh cụ thể có tính đến các mục tiêu về mặt chiến lược và tài chính cả trước mắt cũng như lâu dài.

Những tiêu chí đó là gì? Đó có thể là sự cân nhắc tác động qua lại giữa việc duy trì khách hàng và việc nắm quyền kiểm soát, giữa mục tiêu giành thị phần và doanh thu từ mỗi khách hàng, thời gian tung sản phẩm ra thị trường, khả năng thành công, các yêu cầu về nguồn lực đầu tư.

Các tiêu chí kinh doanh cụ thể sẽ giúp việc đưa ra quyết định trong nội bộ nhóm trở nên nhanh chóng và minh bạch hơn. Mọi người đều tin tưởng vào tính khả quan của sản phẩm sau này, còn doanh nghiệp sẽ chỉ phải tập trung phát triển nhóm dịch vụ có tiềm năng hơn cả.

3. Sáng tạo mô hình kinh doanh song song với các đặc tính và chức năng đơn thuần của dịch vụ

Hầu hết các tổ chức đều đầu tư nhiều thời gian phát triển các chức năng và đặc tính dịch vụ nhưng lại không quan tâm tới việc định hình mô hình kinh doanh bổ trợ cho dịch vụ đó. Mỗi dịch vụ mới đòi hỏi một mô hình kinh doanh mới tương thích để có thể tạo ra các giá trị cốt lõi cho người sử dụng cũng như đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Công ty BskyB có trụ sở tại Anh đã làm tốt điều này. Khi tung dịch vụ truyền hình Sky ra thị trường, công ty đã ngay lập tức áp dụng việc đăng ký thuê bao truyền hình. Nhắm tới đối tượng khán giả nam giới từ 20 đến 40 tuổi, Sky quyết tâm giành được bản quyền phát sóng nhiều sự kiện thể thao và thu hút được nhiều khán giả.

Trên nền tảng mô hình kinh doanh ban đầu, Sky tiếp tục sáng tạo các dịch vụ mới bằng cách mang tới cho khách hàng nhiều chương trình truyền hình độc quyền hơn. Nhờ thế, Sky ngày càng mở rộng đối tượng khán giả và củng cố vị trí trong lòng người dùng. Sky thoả mãn nhu cầu giải trí của khách hàng bằng nhiều lựa chọn với nhiều gói dịch vụ, hơn thế, còn lấn sân sang dịch vụ Internet băng thông rộng và điện thoại. Doanh thu của Sky vì thế mà tăng lên nhanh chóng.

Chính chiến lược lựa chọn dịch vụ và mô hình kinh doanh đúng đắn đã giúp Sky bảo vệ được lợi thế cạnh tranh, xâm nhập thành công vào dịch vụ truyền hình giá trị cao và giữ vững vị trí chiến lược trên thị trường.

4. Nhanh chóng và quyết liệt kiểm chứng những dự án có tiềm năng hoặc các ý tưởng sơ khai

Các công cụ phân tích người tiêu dùng tinh vi ngày nay đã giúp chúng ta kiểm chứng những ý tưởng kinh doanh mới và bổ trợ cho các quyết định về thiết kế sản phẩm có căn cứ trước khi chúng ta đầu tư vào bất kỳ mô hình nào. Băng video và đoạn phim hoạt hoạ có thể giúp bạn trình diễn những tính năng và lợi ích căn bản của một ý tưởng kinh doanh mới. Còn mô hình môi trường kinh doanh phỏng tác sẽ giúp bạn xác định đặc tính nào của dịch vụ thực sự tác động đến nhu cầu và động thái nào từ phía đối thủ có thể làm thay đổi cục diện trên thị trường.

Môi trường phỏng tác trực tuyến có thể giúp so sánh các ý tưởng kinh doanh của vô số các nhà cung cấp ở nhiều mức giá khác nhau để đưa ra lựa chọn. Thông qua môi trường này, còn có thể lựa chọn được nhà cung cấp tốt nhất với mức giá tối ưu.

Với cách tiếp cận vấn đề từ ngoài vào trong: nhấn vào các dịch vụ hướng tới người tiêu dùng, cân nhắc tới đối thủ cạnh tranh, dựa trên các dữ liệu thị trường, sự chênh lệch giữa các ý tưởng dịch vụ có tiềm năng sẽ gia tăng đáng kể. Trước hết, với việc dựa vào các tiêu chí kinh doanh đã được xác định từ trước, doanh nghiệp sẽ lựa chọn và chỉ đầu tư cho ý tưởng kinh doanh tiềm năng nhất.

Cuối cùng, doanh nghiệp sẽ dùng những phép phân tích khách hàng tối tân nhất để kiểm chứng các ý tưởng đó. Nhờ vậy, họ có thể đưa ra lựa chọn nhanh chóng và khôn ngoan hơn – tất cả đều nhắm đến mục tiêu tăng tốc độ tung dịch vụ ra thị trường và thúc đẩy cơ hội thành công của dịch vụ.

(SEM Vietnam -Theo Doanhnhan360)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Bỏ bê dịch vụ khách hàng – đã mất đi dễ gì lấy lại

Dẫu khủng hoảng kinh tế có khiến việc duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn đến đâu thì bạn hãy luôn tỉnh táo và biết cắt giảm khôn khéo, đừng vì những cái lợi trước mắt mà đánh đổi lợi ích lâu dài.

Thật tệ khi các khoản đầu tư cho hoạt động sáng tạo lại là thứ đầu tiên mọi doanh nghiệp nghĩ đến việc cắt giảm trong thời kỳ khủng hoảng bởi họ tưởng hoạt động sáng tạo và sự sống còn của doanh nghiệp là hai phạm trù khác biệt. Thế nhưng, họ đã lầm. Ngừng sáng tạo đồng nghĩa bạn đã khai tử cho doanh nghiệp của mình.

Không chỉ có hoạt động sáng tạo, mảng dịch vụ khách hàng cũng đòi hỏi doanh nghiệp cần hết sức cẩn trọng khi tính đến chuỵện cắt bỏ. Nếu không tin, tôi dám chắc bạn sẽ đổi ý sau khi nghe tôi kế hai câu chuyện dưới đây.

Hertz và American Express là hai nhà cung cấp dịch vụ tôi tín nhiệm từ nhiều năm nay. Thế nhưng, chỉ mới tuần trước thôi, họ đã để mất đi một trong những khách hàng thân thiết nhất.

Câu chuyện thứ nhất là với Hertz

Nhiều năm nay, tôi là khách hàng có thẻ hội viên 5 sao của Hetz. Tôi quen chọn Hetz đơn giản vì dịch vụ của họ khá chuẩn. Thứ ba tuần trước, tôi đáp chuyến bay tới sân bay O’Hare tại Chicago vào khoảng 8h30. Dưới cái rét dưới 10oC vào lúc trời đã tối, tôi cùng một số hành khách khác phải đợi tới 20 phút mới có xe đón từ nhà ga sân bay tới nơi thuê xe. Thế nhưng, không ai trong số chúng tôi có tên trong danh sách khách VIP của Hetz.

Ngay khi bước chân vào toà nhà của Hetz, chúng tôi quả hơi hoảng khi thấy hàng dài người đang kiên nhẫn xếp hàng chờ đợi ba nhân viên của Hetz chậm rãi xử lý các yêu cầu. Thế rồi, sau 50 phút, chúng tôi cũng đã đợi được đến lượt mình. Chưa hết, chúng tôi còn phải chờ thêm 20 phút nữa mới được bàn giao xe vì còn phải đợi nhân viên của Hetz lau chùi và đánh xe đến nơi tập kết. Một số khách hàng khác đã nhanh trí chọn cách đi bộ đến Avis.

Lý giải cho sự chậm trễ này các nhân viên của Hertz nói rằng công ty vừa trải qua đợt cắt giảm nhân sự quy mô lớn nên họ không có đủ người để xử lý kịp các yêu cầu của khách hàng. Các nhân viên còn lại của Hertz đang nỗ lực hết sức để hạn chế tối đa những tác động đến từ đợt thu hẹp quy mô.

Dù rất thông cảm với nỗ lực của các nhân viên của Hertz trong việc chiều lòng khách khi quân số đã giảm nhiều nhưng rõ ràng, Hertz đã để lại ấn tượng rất xấu trong tôi. Kể từ nay vể sau, nếu có đến Chicago, tôi cũng sẽ không bao giờ thuê xe của Hertz nữa. Một lần như vậy là quá đủ để tôi nói không với dịch vụ của Hertz dù đã có nhiều năm gắn bó.

Câu chuyện thứ hai là với American Express

Từ lúc tốt nghiệp, tôi chỉ quen sử dụng thẻ của American Express bởi dịch vụ của họ khá thuận tiện. Thế nhưng, chỉ vài tháng trước thôi, dịch vụ của họ bắt đầu có vấn đề.

Là một công ty tư vấn nên chúng tôi chỉ nhận được phí dịch vụ khi đã giải quyết xong vụ việc cho thân chủ và việc duy trì các khoản tín dụng lớn trong quá trình đó cũng là điều đương nhiên. Chúng tôi là một công ty làm ăn có lãi, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hết sức minh bạch; thu nhập hàng tháng có thế lên tới hàng chục nghìn đôla và đương nhiên, kiếm cho American Express khoản phí trung gian hết sức thoả đáng.

Năm ngoái, một khách hàng của tôi có đôi chút chậm trễ trong khâu thanh toán thế nhưng American Express vì thế đã đóng băng mọi tài khoản thẻ của chúng tôi. Sau đó, không nói với chúng tôi bất kỳ lời nào, họ phong toả mọi khoản chi tiêu của chúng tôi.Quản lý của chúng tôi đã cố tiếp cân với người giám sát phía American Express thế nhưng họ vẫn khăng khăng giữ nguyên quyết định.

Chúng tôi đã chuyển sang nhà cung cấp thẻ khác khi thấy dịch vụ của American Express không còn đáp ứng được nhu cầu của mình. Làm vậy chỉ American Express bị thiệt bởi thị trường giờ đây đã thuộc về người mua. Họ có thể tiết kiệm được một vài đồng nhờ giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu của các công ty nhỏ, nhưng cái họ mất – lòng tin của khách hàng – mới là điều đáng kể. Sự tín nhiệm của khách hàng – cũng là lợi ích lâu dài của mọi doanh nghiệp – khi đã mất đâu dễ gì lấy lại.

Tôi e rằng nỗi bực dọc với Hertz và American Express sẽ không phải là những trường hợp đơn lẻ. Rồi đây, rất dễ, nhiều công ty khác sẽ đồng loạt tiến hành các giải pháp tạm thời như cắt giảm ngân sách dành cho hoạt động sáng tạo và cải thiện dịch vụ khách hàng.

Nếu cũng đang tính tới phương án đó, hãy chắc rằng bạn sẽ không chỉ chăm chăm tiết kiệm các chi phí hữu hình. Hãy biết nhìn xa trông rộng đoán xem sự cắt giảm đó có khi nào làm tổn hại nghiêm trọng tới sự tín nhiệm khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ và xa hơn là đến khả năng cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp bạn không?

(SEM Vietnam – Theo TuanVietNam)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Tâm lý bán hàng: Mười điểm đặc biệt của con người

Chúng ta cần nghiên cứu tâm lý, đặc biệt là nếu như bạn hoạt động trong lĩnh vực marketing, bán hàng hay viết lời quảng cáo.

Nghề của bạn đòi hỏi phải hiểu tất cả các đặc tính của con người, phân tích vì sao người ta lại tiếp nhận quyết định này chứ không phải quyết định kia. Dưới đây là mười đặc trưng của con người mà bất cứ ai làm việc trong lĩnh vực marketing/bán hàng/quảng cáo cũng cần phải biết đến. Mười yếu tố đó sẽ giúp bạn hiểu được rõ hơn về bản chất của con người – những “thượng đế” không phải lúc nào cũng đưa ra những hành động mua hàng lôgic

1. Chúng ta tiếp nhận quyết định thường là theo cảm tính

Các quyết định được chúng ta đưa ra thường được dựa trên cảm giác, nhu cầu hoặc tình cảm chứ không hẳn là tính lô-gíc. Chính vì nguyên nhân này, các lợi ích phi vật chất mà chúng ta nhận được chính là một trong những yếu tố thuyết phục hành động mua hàng. Đừng quên nút ấn mà với nó, bạn có thể tác động đến tình cảm của con người.

2. Chúng ta cần cơ sở lập luận

Ví dụ: một người nhìn thấy quảng cáo với bức ảnh về chiếc xe hơi thể thao và anh ta thấy thích nó. Anh ta sẽ không mua chiếc xe này khi chưa thấy thích nó, và anh ta muốn có được các thông tin cụ thể về đặc điểm kỹ thuật như công suất động cơ, độ an toàn, giá cả và dịch vụ chăm sóc. Anh ta muốn có chiếc xe này vì nó cho phép anh ta có được cảm giác thoải mái. Nhưng anh ta chỉ mua nó khi có thể biện minh cho hành vi mua bán của mình và chứng minh được tính lý trí của hành động đó.

3. Chúng ta là trung tâm tâm tự kỷ

Chúng ta nhìn nhận thế giới với quan điểm của cách mà nó có quan hệ với chúng ta Khi có ai đó yêu cầu chúng ta thực hiện điều gì đó, chúng ta lập tức bắt đầu nghĩ rằng, liệu điều này mang lại cho chúng ta những gì? Con người thường cố gắng nghĩ về bản thân trước hết. Thậm chí anh ta là người rất tốt. Đó là bản chất của con người.

4. Chúng ta coi trọng giá trị

Khi lựa chọn sản phẩm này hay sản phẩm kia, chúng ta thường quan tâm tới giá trị của nó trước hết. Sau đó, chúng ta so sánh giá trị đó với giá hàng hóa.Giá trị hàng hóa càng lớn so với giá hàng hóa thì xác suất mà sản phẩm sẽ được bán cho người này càng cao hơn. Dĩ nhiên, đối với mỗi người thì giá trị hàng hóa là giá của bản thân.

5. Tính xã hội

Não người không phải là máy tính.Các nhà bác học đã chứng minh rằng chức năng chính của não được thể hiện ở việc giải quyết các vấn đề tác động xã hội, mối quan hệ lẫn nhau giữa con người. Chúng ta hãy thử nhớ lại các bài giảng toán thời phổ thông. Bản chất của bài toán luôn dễ hiểu, nếu như nó có liên quan đến cuộc sống thực chứ không phải với các dữ liệu trừu tượng. Vì thế mà trong việc quảng bá sản phẩm, nhiều công ty tích cực sử dụng lời nhận xét của các khách hàng khác, các câu chuyện thành công, ảnh, hình minh họa…

6. Bạn không thể buộc mọi người làm bất cứ điều gì

Khi mọi người mua bán, điều này diễn ra không phải bởi bạn có được quyền lực với họ. Bạn có thể kêu gọi, chỉ huy, nhưng cối cùng, con người cũng sẽ làm điều mà họ muốn chứ không phải điều mà bạn muốn. Điều này có nghĩa là công việc của bạn được thực hiện nhằm chỉ ra cách thức mà bạn đề nghị, thỏa mãn các nhu cầu hiện tại và trong tương lai của khách hàng.

7. Mọi người thích mua sắm

Con người thực sự rất thích mua sắm. Đơn giản là hãy lưu ý đến ngành công nghiệp phần mềm. Gần như mỗi một phần mềm nhỏ có bản quyền đều có tỷ biến miễn phí.Nhưng mọi người tiếp tục sử dụng chương trình phần mềm tính phí. Đừng vội vàng thúc đẩy quá trình mua hàng – bản thân con người sẽ muốn kết thúc quá trình đó. Bạn chỉ cần đưa ra đề xuất hấp dẫn khiến khách hàng quan tâm.

8. Chúng ta thường hay nghi ngờ

Phần lớn mọi người ngần ngừ lưỡng lự với một món hàng nào đó. Họ không muốn rủi ro. Bạn không bao giờ không thể nói trước được về sự thiếu tin tưởng của khách hàng đối với sản phẩm. Vì thế mà cần tính đến các yếu tố: kết quả thử nghiệm, nghiên cứu, xác nhận từ các nguồn thông tin, các dữ liệu khoa học.

9. Mọi người luôn tìm kiếm một thứ gì đó

Tình yêu. Sự giàu có. Vinh quang. Tiện ích. An toàn. Họ luôn tìm kiếm một thứ gì đó. Nhiệm vụ của bạn rất đơn giản – hãy đưa ra những gì mà họ tìm kiếm. Và không cần gì hơn. Thế là đủ.

10. Mọi người hành động thường là theo tâm lý bầy đàn

Nếu được những người khác đánh giá thì sản phẩm được coi là tốt. Những cuốn sách bán chạy nhất, những bộ phim bom tấn thu hút nhiều lượt độc giả và khán giả chỉ bởi vì đã có nhiều người đã đọc cuốn sách hoặc xem bộ phim.

(SEM Vietnam – theo Bwportal)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

7 bước giúp bạn tuyển dụng được nhân viên bán hàng phù hợp

Sự thiếu kết nối tồn tại giữa các nhà quản lý bán hàng và những người được tuyển dụng chính là nguyên nhân dẫn tới các thách thức cho cả hai. Tuy nhiên, họ có thể cùng nhau giải quyết được vấn đề phát sinh này bằng cách tạo ra chương trình thẩm tra nhân tài bán hàng của công ty.

Việc thẩm tra ứng viên này là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất mà các nhà quản lý cũng như những người được tuyển dụng đều phải đối mặt. Hầu hết mọi người sẽ nói rằng việc thẩm tra nhân tài bán hàng là nhiệm vụ cam go nhất. Tại sao vậy? Đơn giản vì những người bán hàng đều được đào tạo để có sức thuyết phục. Thế nên, họ đều biết làm thế nào để đưa ra những câu trả lời vừa ý nhất cho các câu hỏi. Có khi còn nản chí hơn nếu phỏng vấn những người bán hàng làm việc cho một đối thủ cạnh tranh bởi họ đều biết những vụ bàn tán xôn xao trong ngành cũng như từ ngữ chuyên môn của ngành. Điều đó khiến cho thách thức ngày càng trở nên khó khăn hơn nhiều. Nhưng đừng buồn phiền! Bởi dẫu cho đó có là công việc được tiến hành thậm chí ngay cả trước khi bạn nhìn vào lý lịch của ứng viên thì việc thẩm tra nhân tài bán hàng thành công vẫn là điều có thể thực hiện được.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất mà một công ty có thể phải thực hiện đó là phát triển được một chương trình thẩm tra nhân tài bán hàng. Điều này giúp tập trung vào mặt sáng kiến. Sứ mệnh của chương trình này là cung cấp dữ liệu cho phép đưa ra tiêu chuẩn đánh giá khả năng thực sự của ứng viên ngược với hồ sơ được mong muốn. Hãy nghĩ về việc trình bày và xác định rõ ràng một cách hài hòa – điều đó có nghĩa là có một người bán hàng phù hợp.

Ngoài ra, những dữ liệu về tiêu chuẩn đánh giá đó nên được tổ chức thành dạng văn bản đầy đủ nhằm chỉ ra từng bước các thành phần của chương trình tìm kiếm. Vì thế, tốt nhất là hãy xác định xem ai là người sẽ tham gia phỏng vấn các ứng viên cũng như vai trò của họ trong quá trình phỏng vấn. Bên cạnh đó, nên định rõ những công cụ sẽ được sử dụng cũng như mục đích của chúng. Và dưới đây chính là bảy thành phần quan trọng tạo nên một chương trình thẩm tra nhân tài bán hàng hiệu quả.

1. Tạo ra hồ sơ về người bán hàng lý tưởng

Điều luôn gây ngạc nhiên cho chúng ta đó chính là không biết bao nhiêu công ty đã kỳ công tổ chức được các hồ sơ dưới dạng văn bản đầy đủ về khách hàng lý tưởng của họ. Tuy nhiên, rất ít công ty có được một hồ sơ về người bán hàng lý tưởng của mình. Vậy làm thế nào bạn có thể tìm kiếm được khi bạn không biết cái bạn đang định tìm kiếm là gì?

Do đó, hồ sơ này nên được trình bày chi tiết một cách đầy đủ. Một số mục cần phải được chỉ rõ trong hồ sơ là kinh nghiệm mà bạn mong chờ ứng viên đó thực sự có được cũng như những kỹ năng mà ứng viên đó nên sẵn có cùng những kỹ năng mà bạn KHÔNG sẵn sàng truyền dạy cho họ.

Sự thiếu vắng một hồ sơ được xác định đầy đủ về người bán hàng lý tưởng chính là nguyên nhân phổ biến nhất của những nhà quản lý bán hàng tồi. Và đó cũng chính là điểm gây thất vọng lớn nhất giữa các nhà quản lý bán hàng với những người được tuyển dụng. Bởi trong thực tế, nhiều người được tuyển dụng thường phàn nàn rằng họ cảm thấy mình như những mũi phi tiêu bị những người bịt mắt ném đi chỉ vì họ có quá ít tiêu chí đáp ứng được một hồ sơ mong muốn.

2. Luôn luôn tuyển dụng

Trong bán hàng có một câu thành ngữ cổ rằng: “Thời gian cam go nhất để bán được hàng đó chính là khi bạn thực sự cần một người biết bán hàng.” Và điều đó cũng hoàn toàn đúng trong việc tuyển dụng. Khi bị khuyết đi một vị trí trong đội ngũ bán hàng thì điều có nghĩa rằng đã tới lúc luyện tập “cả hai tay đều sẵn sàng” để lấp đầy chỗ trống đó bởi trong khi vị trí bán hàng bị khuyết thì cũng đồng nghĩa rằng các mục tiêu về doanh thu cũng bị rơi vào tình trạng bấp bênh. Điều này nhiều lúc dẫn tới việc quên chuẩn bị hồ sơ về hồ sơ người bán hàng lý tưởng trong khi quan tâm tới việc lấp đầy chỗ trống. Vì thế hãy bình tĩnh một chút, đừng quá nôn nóng, bởi vị trí trống sau đó sẽ nhanh chóng lại bị bỏ trống trở lại nếu người được tuyển dụng tiếp theo không đáp ứng phù hợp theo yêu cầu về bán hàng.

Do đó, việc tuyển dụng bán hàng là một sự luyện tập quanh năm. Còn nguồn lực bán hàng tốt nhất luôn trong tình trạng thiếu vắng nhân tài bán hàng sáng giá. Hãy tìm một công ty có khả năng nhận biết được ứng viên sáng giá đáp ứng được hồ sơ của họ nhưng lại không tìm ra được cách để thuê được ứng viên đó. Đây là một tỷ lệ hiếm khi xảy ra. Bởi vì các đội ngũ bán hàng đều được xoay vòng theo định hướng hoặc của công ty hoặc của người lao động. Do đó, cách tốt nhất là phải sẵn có một hồ sơ ứng viên hơn là bắt đầu chuẩn bị trong quá trình tuyển dụng các ứng viên khi một vị trí bị khuyết. Những quyết định tuyển dụng ngu dốt chỉ được đưa ra trong tình trạng tuyệt vọng lấp đầy chỗ trống mà thôi. Dẫu biết vị trí đó còn khuyết ngày nào thì chi phí của công ty bị tốn thêm ngày ấy. Song, chi phí còn tốn nhiều hơn nếu vị trí đó được lấp đầy bởi một người không hề phù hợp với nó.

3. Thực hiện phỏng vấn ngược

Vì mục đích của quá trình này là dùng cho cả hai khía cạnh để có đủ khả năng xác định xem liệu sự hòa hợp rõ ràng có nên được thiết lập hay không mà một kỹ thuật tuyệt vời được áp dụng chính là việc phỏng vấn ngược – đây là một cuộc phỏng vấn được một thành viên của đội ngũ bán hàng thực hiện, người sẽ trở thành bạn của ứng viên nếu ứng viên đó được thuê. Do tính chất quan trọng như vậy mà những cá nhân được lựa chọn tham gia thực hiện bước này phải là những người trung thành với công ty cũng như phải có tầm hiểu biết và gây được ấn tượng yêu thích.

Tuy nhiên, không giống những cuộc phỏng vấn truyền thống, “người phỏng vấn” không đưa ra bất kỳ câu hỏi nào về ứng vên (như chúng ta biết thì điều đó dễ gây cho người được phỏng vấn thấy lâm vào tình thế khó khăn nếu bị hỏi những câu hỏi trái khoáy). Do vậy mà chẳng ứng viên nào muốn những người không được đào tạo lại đi đặt câu hỏi cả. Hơn nữa, sự luyện tập “không còn nghi ngờ gì nữa” này có hai mục đích khác nhau. Thứ nhất là để đưa ra cho ứng viên một cơ hội đặt những câu hỏi về người sẽ trở thành bạn của họ nếu họ được thuê. Nhưng bản chất thì thực ra đó chính là cách để có được sự hình dung tốt hơn về cuộc sống công việc hàng ngày sau này của mình. Còn điều thứ hai chính là để xem ứng viên đã chuẩn bị như thế nào cho một cuộc bán hàng thực tế.

Còn sau đó, hãy tạo ra một cuộc thẩm định với “người được phỏng vấn ngược” để xem họ đã đặt ra những câu hỏi nào. Và như vậy, bạn có thể xác định được xem liệu ứng viên đó đã biết nắm bắt lợi thế của cơ hội đưa ra chưa? Có biết đưa ra những câu hỏi đã được chuẩn bị và có sự hiểu biết sâu sắc không? Hãy yêu cầu họ viết ra câu trả lời. Nếu họ không làm thì kiểu chuẩn bị của họ dành cho một cuộc bán hàng thực tế sẽ là gì? Và liệu họ thực sự quan tâm tới công việc này như thế nào?

4. Đặt ra một bộ chuẩn về các câu hỏi phỏng vấn

Thường thường, nhiều ứng viên đều được thẩm tra vào cùng một vị trí công việc. Vì thế nên điều này tạo ra nhu cầu có thể cạnh tranh giữa các ứng viên với nhau về mặt tạo hồ sơ tuyển dụng. Để làm được điều này cần có một bộ chuẩn các câu hỏi phỏng vấn cần thiết. Tài liệu đó sẽ được sử dụng trong suốt cuộc phỏng vấn và được xem lại sau khi một ứng viên rời khỏi văn phòng. Những câu hỏi này không được đặt ra dành cho những câu trả lời đúng hay sai, mà chúng được đặt ra để xem liệu quá trình suy nghĩ của ứng viên đó có phù hợp với những yêu cầu của doanh nghiệp cũng như với hồ sơ về người bán hàng lý tưởng của bạn không.

Khi đưa ra bản danh sách các câu hỏi dành cho phỏng vấn thì cách hay nhất là hãy thêm vào những kịch bản ví dụ về bán háng điển hình trong môi trường của bạn. Ví dụ như: “Khách hàng của bạn không chấp nhận mức giá mà bạn đưa ra. Bạn sẽ làm gì?”. Khi ứng viên trả lời được những câu hỏi như vậy, bạn hãy khoanh tròn vào những câu hỏi đó để biết được ứng viên đó làm được gì vì: “Trong tất cả những nghề nghiệp mà bạn có thể lựa chọn, tại sao bạn lại chọn nghề bán hàng?”

Bạn hầu như có thể hình dung được sự khó khăn nhường nào để đưa ra được những câu hỏi thể hiện được sự xác định hài hòa rõ ràng sẽ hiệu quả nếu như bạn không có một hồ sơ thể hiện được sự so sánh trái ngược bởi điều đó sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều (thông thường với trường hợp tuyển dụng người bán hàng sẽ có một bộ chuẩn 28 câu hỏi dành để phỏng vấn ứng viên vào lĩnh vực này.)

5. Hãy giả một cuộc bán hàng

Còn cách nào tốt hơn để nhận biết được liệu ai đó có phù hợp với môi trường bán hàng của công ty bạn là thử đặt họ vào đúng vị trí đó không? Mà để làm được điều này hiệu quả, bạn cần tạo ra một kịch bản cho ứng viên và hay nhất là hãy đưa cho họ kịch bản đó trước một ngày để ai cũng có thể có thời gian chuẩn bị. Vì thế, mọi ứng viên đều nên được cung cấp lượng thông tin như nhau về một người bán hàng chính thức trong công ty bạn ra sao trước khi tiến hành một cuộc giả bán hàng.

Còn với những thành viên trong công ty tham gia vào sự luyện tập này thì nên được tập dượt qua một chút. Sở dĩ chỉ là “một chút” thôi vì chắc chắn bạn không muốn mọi chuyện trở nên quá khô khan đến nỗi không còn thật nữa phải không bởi nếu không có bất kỳ sự tập dượt nào thì rất khó có thể diễn theo kịch bản được.

Điều cuối cùng bạn phải làm cho tốt đó chính là một bản tổng sắp tỉ số. Hãy biết rằng điều bạn đang trông thấy chính là để đánh giá cả quá trình và tính điểm một cách phù hợp. Và nếu vậy thì chúng có thể tạo ra được một bản phân tích các nhu cầu một cách thấu đáo không? Chúng có xác định được các thách thức mà hoàn cảnh đó phải đối mặt chưa? Hay bạn có mua được hàng theo kịch bản đó không?

6. Sử dụng kiểm tra đánh giá trực tuyến khôn ngoan

Có vô số công cụ hết sức hữu ich trong quá trình thẩm tra đối với cả về kỹ năng lẫn tính cách cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có một số ít, nếu có, là những công ty đánh giá trực tuyến đưa ra các công cụ của mình mà được phép sử dụng để đưa ra quyết định tuyển dụng. Và ứng dụng phù hợp nhất được dùng như một phần dữ liệu bổ sung trong chương trình thẩm tra nhân tài bán hàng.

Linda Moeller, giám đốc sản phẩm của Employee Continuum, từng chứng kiến những công ty sử dụng công cụ tuyệt vời đó một cách thiếu chính xác. Cô cho biết: “Chúng tôi từng chứng kiến nhiều tổ chức thất bại khi lấy ngữ cảnh của một tổ chức để đưa ra quyết định đánh giá về sự thích ứng quan trọng nhất. Ví dụ như nhiều tổ chức đều giả định rằng việc thực hiện một sự đánh giá bán hàng sẽ đảm bảo được họ đã cải thiện được những người thực hiện bán hàng. Điều này hoàn toàn không phải là trường hợp cần thiết. Một ví dụ khác đó là các tính cách cá nhân đòi hỏi một người bán hàng để bán đồ văn phòng phẩm hoàn toàn khác so với những đòi hỏi tương tự ở một người bán háng bán các vật dụng cần thiết cho một phòng khám răng. Và như vậy, để có được thành công, một tổ chức cần phải cân nhắc kiểu quan hệ mà họ có với các khách hàng của mình cũng như năng lực cần thiết để làm cho những mối quan hệ đó ngày càng trở nên bền vững hơn.”

7. Ứng dụng công cụ thẩm tra cơ bản

Viết là cả một nghệ thuật đã bị mất. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta hầu hết đều đang sử dụng nghệ thuật đó để truyền thông nhiều hơn so với trước đây – đó chính là viết thư điện tử. Và liệu còn có điều gì tồi tệ hơn nữa khi gửi đi một lá thư điện tử được viết một cách ngớ ngẩn để bàn về một thương vụ? Điều đó hoàn toàn không nằm ở vấn đề sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn tốt như thế nào, mà là ở chỗ công ty bạn lúc này trông đang nhếch nhác và không chuyên nghiệp một chút nào.

Một kỹ thuật hiệu quả trong việc thẩm tra nhân tài bán hàng chính là áp dụng việc viết một kế hoạch kinh doanh siêu nhỏ. Khi ứng viên hoàn thành một cách xuất sắc tất cả những bước ở trên trong cả quá trình thì bây giờ là lúc yêu cầu họ đưa ra một bản kế hoạch kinh doanh chỉ được phép trong một trang giấy nhằm cho thấy họ thực sự phù hợp với công việc này tới mức nào. Và hãy nhắc lại cho họ đủ ba lần rằng bạn chỉ xem bản kế hoạch kinh doanh đúng một trang giấy mà thôi và hãy hỏi họ xem khi nào họ có thể gửi cho bạn. Và trong tất cả những kỹ thuật về tuyển dụng người bán hàng được nhiều nơi áp dụng trong nhiều năm qua thì đây chính là một trong những cửa ải khiến phần lớn ứng viên bị đánh bại.

Tuy nhiên, kỹ thuật này cho phép bạn đánh giá được một số khía cạnh quan trọng sau:

- Các ứng viên có thể truyền thông dưới dạng viết một cách mạch lạc không? Nếu bạn là một khách hàng nhận được văn bản này thì bạn thấy thông điệp đó thể hiện điều gì về tác giả của nó?

- Họ có hiểu được điều vai trò của mình không? Vì khi thành phần này được thực hiện sau cùng trong cả quá trình thì họ cũng nên có được một sự hình dung rõ ràng về công việc và sự trông mong vào mình.

- Phương pháp của họ có phù hợp với những mong chờ của ban quản lý không? Đó chính là cách tốt nhất để biết ngay lúc này nếu bạn không cảm thấy hài lòng với bản kế hoạch của họ không.

- Họ có thể đạt được thời hạn do chính họ đề ra hay không? Nếu kế hoạch bị trễ thì không cần phải tiếp tục cân nhắc về vai trò của ứng viên đó nữa.

- Họ có theo được các định hướng đã đưa ra không? Những định hướng chỉ được trình bày trong một trang giấy thôi, không được nhiều hơn.

Tóm lại, việc có được một chương trình thẩm tra nhân tài bán hàng có rất nhiều lợi ích. Ảnh hưởng rõ rệt lớn nhất là doanh thu bán hàng ngày càng tăng hơn do bạn đã có được một đội ngũ bán hàng hiệu quả cũng như một sự hạn chế việc xoay vòng nhân sự và đó chính là điều không thể thiếu để giúp cho sự tồn tại của bất kỳ công ty nào.

(SEM Vietnam – Theo Bwportal)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Logic bán hàng

Hiện nay, thị trường FMCG (fast-moving consumer goods – hàng tiêu dùng) đang trong tình trạng cạnh tranh khốc liệt và xu hướng này sẽ còn tiếp tục tiếp diễn.

Trong cuộc chiến khốc liệt này, kẻ chiến thắng sẽ là những công ty học được cách quản lý nhu cầu khách hàng. Họat động này đòi hỏi phải có logic nhất định trong việc tổ chức bán hàng mà dựa vào đó, công việc của bộ phận sản xuất, phân phối, tiếp thị, mua hàng…được xây dựng một cách thống nhất chặt chẽ với nhau. Những công ty thành công của ngày mai chính là những công ty mà việc kinh doanh được xây dựng trên phương thức tiếp cận với việc quản lý nhu cầu khách hàng.

Trong cuộc chiến căng thẳng này thì những công ty đạt được thành công là công ty biết cách quản lý được nhu cầu. Điều này đòi hỏi phải một tính lô-gic nhất định trong việc tổ chức bán hàng, mà dựa vào đó để xây dựng một hệ thống thống nhất cho bộ phận sản xuất, phân phối, tiếp thị và cung ứng. Nhìn chung, phương pháp tiếp cận hệ thống là hết sức cần thiết!

Sản phẩm trước hết!

Mỗi một nhà sản xuất đều mong muốn bán càng nhiều sản phẩm với giá càng cao càng tốt. Nhưng điều này chỉ có thể trở nên hiện thực khi nhà sản xuất là đơn vị dẫn đầu thị trường. Vì sao? Để giữ được vị thế quán quân trong lĩnh vực của mình, bạn cần phải lựa chọn logic kinh doanh – và điều này có thể hướng đến việc quản lý hoặc là hàng hóa, hoặc là nhu cầu khách hàng.

Nhiều doanh nhân đi theo nguyên tắc này: “Tôi sẽ bắt đầu từ việc tạo ra sản phẩm, sau đó sẽ xem xét cách bán nó như thế nào”. Trong phương pháp tiếp cận này, việc quản trị hàng hóa được coi trọng.

Trong giai đoạn đầu, việc sản xuất sản phẩm chất lượng cao với chi phí thấp nhất và xây dựng các mối quan hệ với các nhà cung cấp là mục tiêu chính. Tiếp theo là bộ phận bán hàng chịu trách nhiệm tiêu thụ sản phẩm được hình thành. Khi bộ phận này đối mặt với việc không hoàn thành kế hoạch đề ra, nhà sản xuất thành lập một bộ phận tiếp thị để giúp bộ phận bán hàng tiêu thụ hàng hóa tại cửa hàng, và từ đó – đến người tiêu dùng cuối cùng. Đội ngũ nhân viên của bộ phận tiếp thị phải phát triển một hệ thống thực sự tạo ra động cơ làm viêc cho nhân viên bán hàng, thường xuyên đưa ra những phương cách để khuyến khích những người bán hàng và người tiêu dùng cuối cùng có được sản phẩm “mong muốn”.

Mô hình tiêu thụ sản phẩm của công ty sản xuất mà tiến hành việc kinh doanh theo nguyên tắc “Tôi sẽ bắt đầu từ việc sản xuất sản phẩm?”, được trình bày theo sơ đồ trong hình 2.

Trước hết, vấn đề được giải quyết là cái gì và số lượng bao nhiêu công ty có thể thực hiện được, sau đó lập kế hoạch bán hàng cho bộ phận kinh doanh. Nhà sản xuất coi việc chuyển lượng hàng hóa tối đa về kho của bộ phận bán hàng là nhiệm vụ chính của mình. Còn số phận sau này của sản phẩm – là nhiệm vụ của bộ phận bán hàng.

Với sơ đồ này thì sự thành công của việc tiêu thụ sản phẩm được xác định, tất nhiên là bằng kỹ năng bán hàng. Nhà quản lý bộ phận giới thiệu sản phẩm cho các nhà phân phối và “xử lý” các khiếu nại của họ. Đến lượt mình nhà phân phối trưng bày hàng hóa tại các cửa hàng bán lẻ và cố gắng thuyết phục nhân viên bán hàng và nhà cung cấp ủng hộ mình. Tại mỗi một mắt xích trong hệ thống chỉ có một mục tiêu: bán sản phẩm hiện có với khối lượng ấn định.

Còn người sử dụng cuối cùng có logic riêng của mình: anh ta chỉ mua những gì anh ta cần với số lượng vừa đủ. Và nếu một công ty muốn bán nhiều sản phẩm đến mức có thể với giá cao và hiệu quả nhất, nó phải được xây dựng lại theo logic của người mua và phải nghĩ làm thế nào để định vị điều đó vào tâm trí họ. Cần thiết không chỉ quản lý sản phẩm mà còn là quản lý nhu cầu khách hàng! Và đặt lên vị trí thứ nhất không phải là sản phẩm với các đặc điểm của chúng, mà là động cơ (nhu cầu) của khách hàng.

Đã có ý tưởng ngay từ đầu?

Khi sở hữu sản phẩm này hoặc khác, chúng ta mua không phải là các đặc tính của chúng, mà là để thỏa mãn một số mục tiêu xác định: “để có được niềm vui,” “tăng cường sức khỏe”, “để thể hiện cái tôi của mình”, v.v. Ví dụ, tại sao người ta mua đồ uống Coca-Cola? Điều đó xuất phát là do nó có chứa acid orthophosphoric và caffeine? Chắc chắn là không phải. Có lẽ vì chất lượng của nó? (Nhưng đó là phạm trù chất lượng ?). Hay có thể, người ta mua Coca-Cola với các lý do khác? Chẳng hạn, vì rằng điều này làm cho tươi tỉnh, sảng khoái, ăn uống ngon miệng hơn, v.v.
Trong phương pháp tiếp cận này ý tưởng đặt vào sản phẩm được coi trọng.
Logic tiến hành kinh doanh ở đây là hoàn toàn khác biệt: “Đầu tiên, chúng ta xác định cái gì có thể bán được, và sau đó sẽ xác định cách thực hiện điều đó như thế nào”. Trong trường hợp này, tất cả các đơn vị hướng tới việc quản lý các nhu cầu của người tiêu dùng. Công tác tiếp thị nghiên cứu nhu cầu, Công tác cung ứng – phân phối hàng hóa, công tác sản xuất – chế tạo sản phẩm cần thiết cho người tiêu dùng với số lượng vừa đủ. Trong phương pháp tiếp cận này, công tác tiếp thị là hướng hoạt động ưu tiên của công ty. Sứ mệnh của nó – bán càng nhiều sản phẩm cho càng nhiều khách hàng sao cho càng thường xuyên hơn và kiếm cho được nhiều tiền bằng cách khai thác ý tưởng kinh doanh đã đưa ra.

Tuy nhiên, chỉ vấn đề “Đầu tiên, chúng ta xác định rằng cái gì có thể được bán” để đạt được thành công thì chưa đủ: nó chỉ giúp công ty trở nên nổi tiếng. Việc khai thác hiệu quả tối đa ý tưởng đặt vào sản phẩm, dựa trên các hành động thống nhất của các bộ phận tiếp thị, phân phối và sản xuất.

Nhiều công ty đặt ý tưởng lên vị trí đầu tiên ngày nay đã không còn đất sống. Điều đó không chỉ do sự không hợp thời của ý tưởng, mà còn do sự xác định không đúng logic tiến hành kinh doanh. Xác định ý tưởng, tiến hành sản xuất, quảng cáo, thiết lập kế hoạch cho các bộ phận bán hàng, và sau đó tất cả đều là một: “Hãy bán những gì mà chúng tôi có, với số lượng chúng tôi xác định.”

Tình huống nào được đặt ra trong các doanh nghiệp này? Bộ phận kinh doanh bị dập tơi tả, trong cửa hàng bán lẻ, nhân viên bộ phận tiếp thị làm việc cật lực để tìm ra những các phương thức mới, còn sản xuất thì chạy hết công suất và phẫn nộ khi ứ đọng sản phẩm trong kho của mình. Ở đâu là logic? Đơn giản là nó không thể có khi có sự thiếu thống nhất hành động của các đơn vị tiếp thị, sản xuất và phân phối.

Hầu hết các công ty hiện hành cố gắng để quản lý khối lượng bán hàng thông qua một chính sách xâm nhập cho các nhân viên bộ phận bán hàng, những người có nhiệm vụ – “đẩy” hàng hóa nhiều nhất về kho cửa hàng bán lẻ. Nếu tại công đoạn nào đó xuất hiện “nút chai”, thì nhân viên bộ phận tiếp thị sẽ được huy động.

Sơ đồ nhận được cuối cùng (Hình 4) thể hiện xuất phát từ quan điểm có khả năng làm dấy lên sự xung đột giữa các bộ phận: mỗi bên tham gia trong dây chuyền chỉ thấy công đoạn của mình và chỉ nghĩ về việc làm thế nào để các sản phẩm đi qua bộ phận của mình nhiều hơn trong thời gian ít hơn.

Kết quả là bộ phận bán hàng không hài lòng với công việc của bộ phận tiếp thị: sản phẩm bị tồn lại trong các cửa hàng, không còn ai mong muốn mua nữa. Bộ phận tiếp thị không hài lòng với bộ phận bán hàng: Không có sản phẩm để bán trong cửa hàng. Người sản xuất không hài lòng với cả hai: bán được ít hơn so với số lượng được sản xuất. Và để khắc phục tình trạng này, mỗi bên tham gia quá trình sẽ đưa ra biện pháp trong công đoạn của mình. Những rắc rối ngày càng tăng.

Làm thế nào để thực hiện sự thay đồi có tính hệ thống trong dây chuyền này? Bắt đầu từ đâu?

Phương pháp tiếp cận mang tính hệ thống

Để đạt được sự ổn định của việc cung cấp hàng hóa đến đến người tiêu dùng cuối cùng, đầu tiên là tiến hành cào bằng “sự lưu thông ” cho tất cả bộ phận, và sau đó học cách quản lý sự tăng dần lên theo các giai đoạn phát triển của nó.
Nếu logic kinh doanh được hình thành bằng cụm từ “Tôi sẽ bắt đầu từ việc tạo ra sản phẩm, sau đó sẽ xem xét cách bán nó như thế nào”, quá trình tối ưu hóa bắt đầu từ sự thay đổi tại khâu sản xuất. Nếu như nguyên tắc cơ bản về thiết lập kinh doanh là “Đầu tiên, chúng ta xác định cái gì có thể bán được, và sau đó sẽ xác định làm điều đó như thế nào”, lấp đầy và mở rộng dòng hàng hóa được thực hiện hướng về người tiêu dùng. Như đã đề cập ở trên, cách tiếp cận đầu tiên đi vào bế tắc. Để đánh giá các tiếp cận thứ hai, chúng ta sẽ phân tích khái niệm doanh số bán hàng.

Có nhiều loại khác nhau như là như doanh số lặp lại, doanh số bổ sung, doanh số thay đổi và doanh số xung động.
Doanh số bán hàng lặp lại – đó là kết quả của vị trí sản phẩm của bạn (ý tưởng) trong tâm trí của người tiêu dùng. Đây là những lý do tại sao một khách hàng sẽ chỉ mua sản phẩm của bạn theo số lượng anh ta tự quyết định.
Doanh số bán hàng bổ sung – đó là kết quả của vị trí sản phẩm cạnh tranh (ý tưởng), hoặc thậm chí là sản phẩm của một ngành công nghiệp khác trong tâm trí của người tiêu dùng. Đây là những lý do tại sao một khách hàng sẽ chỉ mua một sản phẩm cạnh tranh hoặc sản phẩm từ ngành công nghiệp khác.

Doanh số bán hàng biến đổi – đó là kết quả của tình trạng hỗn độn trong tâm trí của người tiêu dùng, sao cũng được, mua mua hàng hóa loại nào cũng được. Sự hỗn độn liên quan việc là tất cả các nhà sản xuất tranh nhau quảng cáo về chất lượng cao của sản phẩm mình, khi không chứng tỏ được các dấu hiệu phân biệt giữa chúng. Và nếu như người mua không thấy được sự khác biệt, thì giá cả hàng hóa trở thành tiêu chí chủ yếu để lựa chọn.
Doanh số bán hàng xung động – đó là kết quả của sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài (mùa vụ, thời tiết, ngày lễ, v.v.)

Khi đánh giá các khác biệt này, chúng ta có thể đưa ra công thức cho công tác quản lý chiến lược: Doanh số bán hàng = Lặp lại + Bổ sung + Biến đổi + Xung động.

Nghĩa là, để gia tăng một cách ổn định doanh số bán hàng, cần phải duy trì doanh số lặp lại và chuyển doanh số bổ sung, thay đổi và xung động sang doanh số lặp lại (Hình 5).

Việc quản lý doanh số bán hàng giống như là đi câu cá. Có thể tóm được và giữ được, cũng có thể câu được và bị sổng. Ở đây cũng vậy: củng cố được trong tâm trí của người tiêu dùng – là đã đạt được doanh số bán hàng cần thiết, không kiểm soát được tâm trí của họ – là mất hết. Công thức cho sự thành công trong tình trạng này là: tóm lấy và đừng làm rơi!

Nếu như sự lưu thông của tất cả công đoạn bằng nhau hoặc sự lưu thông công đoạn “Nhà sản xuất – phân phối (xem Hình. 4) nhiều hơn so với các bộ phận khác, cần bắt đầu công việc tăng doanh số bán hàng từ công đoạn “cửa hàng bán lẻ – người tiêu dùng”. Để làm được như vậy luôn chứng tỏ với khách hàng những lý do mới để mua sản phẩm của bạn.

Tiếp theo là việc tự động điều chỉnh sự lưu thông công đoạn “phân phối – cửa hàng bán lẻ”. Để làm được điều này, hãy theo dõi công tác bán hàng trong cửa hàng và quầy bán hàng. Hãy lưu ý là bộ phận phân phối không còn cần phải “lo” về sản phẩm, nhiệm vụ hiện nay là – theo dõi doanh số bán hàng trong từng cửa hàng. Như vậy là quên nguyên tắc “Bán những gì chúng tôi muốn, với số lượng chúng tôi đặt hàng”: điều này không mang lại kết quả mong muốn. Đến đây, có một quy định khác: “Hãy đưa ra cái mà khách hàng cần, với số lượng và ở nơi họ muốn”. Ở đây một cấu trúc tiêu thụ mới được thiết lập (Hình 6).

Mô hình này hướng sự chú ý của lãnh đạo công ty vào kho (kệ) của cửa hàng. Nhà sản xuất theo dõi cái gì và số lượng là bao nhiêu được bán ra trong một khoảng thời gian xác định. Mục tiêu của bộ phận bán hàng nghiên cứu về quản lý dự trữ là việc cung ứng số lượng yêu cầu của một mặt hàng nào đó cho cửa hàng bán lẻ. Trong sơ đồ tiêu thụ này bộ phận kinh doanh trở thành một trung tâm lô – gíc, nó phân phối điều chỉnh dòng hàng hoá giữa nhà sản xuất và các cửa hàng bán lẻ.

Bước tiếp theo là sự lưu thông trong công đoạn “sản xuất – phân phối”. Sản phẩm được sản xuất và chuyển đến các kho hàng của nhà phân phối theo số lượng yêu cầu.
Nhà sản xuất có khả năng tăng sản lượng sản xuất. Điều này là cần thiết, nếu nảy sinh nhu cầu do sự tăng lên của lưu thông hàng hóa trong công đoạn “cửa hàng bán lẻ – người tiêu dùng cuối cùng”: bạn không cho phép sản phẩm bị giữ lại trong công đoạn “sản xuất – phân phối.”

Một nhánh trong chuỗi

Như vậy, tiếp cận hệ thống cho phép bạn quản lý doanh số bán hàng. Cần phải coi trọng thiết lập logic kinh doanh. Nó xác định chiến lược công việc cho từng bộ phận. Nếu như được hướng dẫn bởi nguyên tắc “Đầu tiên, chúng ta xác định cái gì có thể bán được, và sau đó sẽ xác định cách thực hiện điều đó như thế nào”, thì các nhiệm vụ chính của mỗi bộ phận sẽ là:

• Bộ phận tiếp thị – bán hàng, đồng thời mở rộng công đoạn “cửa hàng bán lẻ – người tiêu dùng cuối cùng”;
• Bộ phận phân phối – theo dõi doanh số bán hàng, vừa điều chỉnh công đoạn “phân phối – cửa hàng bán lẻ” với công đoạn “cửa hàng bán lẻ – người tiêu dùng cuối cùng”;
• Bộ phận sản xuất – sản xuất hàng hóa với số lượng người tiêu dùng yêu cầu tại thời điểm.

Bạn có chia doanh số bán hàng ra các dạng khác nhau hay không? Điều đầu tiên cần làm – kiểm soát doanh số bán hàng lặp lại và doanh số bán hàng xung động. Đây là nhiệm vụ của bộ phận phân phối. Nó được giải quyết bằng cách xác định đơn hàng tối ưu cho cửa hàng bán lẻ. Và nếu như điều kiện này được đáp ứng, người mua sẽ thường xuyên được tiếp xúc với sản phẩm của bạn.

Công tác giám sát bán hàng tại công đoạn “cửa hàng bán lẻ – người tiêu dùng cuối cùng” cũng rất quan trọng (xem H. 4): bằng cách này bạn có thể xác định, người tiêu dùng sẵn sàng mua ngay với số lượng bao nhiêu sản phẩm, tức là, xác định doanh số bán hàng lặp lại. Để tăng nó, nên tập trung nỗ lực vào việc chiếm được tâm trí của người tiêu dùng.

Để thực hiện được điều này có nhiều chiến lược tiếp thị:

1. Chuyển sự chú ý của người tiêu dùng từ sản phẩm cạnh tranh sang sản phẩm của chúng ta. Kết quả dự kiến: chuyển dịch doanh số bổ sung sang doanh số lặp lại.
2. Phát triển phân đoạn của mình, đồng thời chuyển sự chú ý của người tiêu dùng từ ngành công nghiệp này sang ngành khác. Kết quả dự kiến: chuyển dịch doanh số bổ sung sang doanh số lặp lại.

3. Bằng việc đầu tiên là làm cho sản phẩm có thương hiệu, đặt một “dấu ấn” trong tâm trí của người tiêu dùng. Kết quả dự kiến: chuyển dịch doanh số biến đổi sang doanh số lặp lại.

. 4. Tiếp tục giải thích cho người sử dụng thường xuyên, lý do tại sao chỉ mua chính sản phẩm của bạn. Kết quả dự kiến: tăng hoặc duy trì doanh số bán hàng lặp lại, ngăn chặn nỗ lực của đối thủ cạnh tranh “dám hoạt động trong khu vực của bạn”.
Các công ty đầu đàn tương lai – là công ty mà biết thiết lập lĩnh vực hoạt động của mình xuất phát từ nhu cầu của khách hàng. Nghĩa là, cần tạo ra một hệ thống quản lý tập trung vào các nhu cầu của người tiêu dùng, và đặt mục tiêu rõ ràng cho mỗi một bộ phận chức năng (Hình 7).
Tương lai – thuộc về các công ty có thương hiệu cho sản phẩm của mình. Còn không có cách tiếp cận hệ thống bán hàng, hàng hóa sẽ luôn luôn vẫn chỉ là hàng hóa.
Trong khung cảnh cạnh tranh khốc liệt cần xác định trước các chức năng của phân phối và tiếp thị, cũng như nguyên tắc tương tác của chúng với bộ phận sản xuất.

(SEM Vietnam – theo Bwportal)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Nghệ thuật sinh tồn của các nhà bán lẻ trong thời kỳ suy thoái

Tình hình suy thoái trở nên khắc nghiệt đối với các nhà bán lẻ. Nghiên cứu gần đây của McKinsey chỉ ra rằng trong suốt hai lần xảy ra tình trạng suy thoái kinh tế gần đây (1990-1991 và 2000-2001), sức tăng trưởng đã chậm lại hơn trong hầu hết mọi quy mô bán lẻ trên toàn nước Mỹ.

93% các nhà bán lẻ được khảo sát mà đã tồn tại được trong suốt cả hai đợt suy thoái vừa qua đều đang phải trải qua mức tăng trưởng doanh thu chậm hơn bởi một trong hai cuộc suy thoái, còn 59% dường như đang phải chịu đựng cho cả hai lần. Thật đáng buồn cho các nhà bán lẻ bởi vị thế của họ trong việc tiếp xúc trực tiếp với chi tiêu của người tiêu dùng lại không dịch chuyển được thành một sự xoay vòng nhanh chóng khi nền kinh tế nói chung đang phải trải qua một thời kỳ khó khăn liên tiếp như hiện nay. Tỉ lệ tăng trưởng theo quy mô bán lẻ trung bình trong suốt năm đầu phục hồi tất yếu sau những cuộc suy thoái kinh tế 1990-1991 và 2000-2001 là 0,3%. Và 12 trong số 15 kim ngạch bán lẻ đã bị đình trệ lại phía sau ngay cả khi tốc độ tăng trưởng trong suốt một hoặc hai thời kỳ phục hồi được tăng lên.

Những động lực suy thoái này – việc giảm doanh thu xuống ngay sau thời kỳ phục hồi kinh tế uể oải – có nghĩa rằng các nhà bán lẻ nên nhanh chóng chuyển sang tối thiểu hóa sự tụt giảm về hiệu quả. Dĩ nhiên, thách thức này có nghĩa rằng các nhà bán lẻ phải có một lượng lớn tùy chọn để sắp xếp được thông qua việc thực hiện từ cắt giảm chi phí bằng việc hạn chế mở thêm cửa hàng hoặc tái cơ cấu lại các chức năng hỗ trợ tới việc tăng doanh thu bằng việc làm mới lại các cửa hàng hoặc kiểm tra lại các chương trình quảng bá của mình. Nhiều nhà bán lẻ đã mắc sai lầm trong việc tập trung vào điều gì đó dễ dàng hoặc đã được biết đến nhiều cũng như đã thất bại khi giải quyết các mục tiêu đầy thách thức hơn nhằm có thể cải thiện được vị thế cạnh tranh của họ trong suốt thời kỳ phục hồi tất yếu sau này.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, một số nguyên tắc cơ bản về tính định hướng là vô giá trong việc giúp các nhà bán lẻ nhanh chóng sắp xếp được thông qua các tùy chọn của họ cũng như thiết lập các quyền ưu tiên dành cho hành động – cụ thể là việc xác định xem liệu khi nào thì cần áp dụng phương pháp tấn công hoặc phòng thủ. Việc kết hợp một sự tự đánh giá nghiêm khắc với một phân tích cụ thể về môi trường kinh doanh có thể giúp các nhà bán lẻ quyết định được tầm quan trọng liên quan về việc giảm bớt chi phí, tăng đầu tư, tạo ra tính phức tạp về tài chính và theo đuổi được mức tăng trưởng doanh thu theo thời hạn.

Các nhà bán lẻ cũng nên bắt đầu bằng việc có một sự quan sát nghiêm ngặt về tình hình hoạt động của các bảng cân đối kế toán, các đội ngũ quản lý và cả hiệu quả hoạt động tổng thể. Lấy ví dụ, các công ty với lượng tiền mặt dự phòng phù hợp và có toàn quyền đối với các khoản tín dụng đều có những tùy chọn chẳng hạn như đầu tư vào cửa hàng, con người hoặc mua bán thì đơn giản đang làm mất đi những đối thủ cạnh tranh yếu hơn mình.

Ngay lúc đó, các nhà bán lẻ cần phải trở nên thực tế hơn về tiềm năng của các hoạt động kinh doanh của mình. Liệu họ có điều hành được các mô hình cửa hàng hoặc thực hiện theo một mô hình với triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ không? Đối với một thị trường đã thực sự bão hòa thì cần phải mở rộng cái gì và đâu là nơi nhà bán lẻ có thể đứng vững trước các đối thủ cạnh tranh khác? Tỉ lệ tăng trưởng gần đây, những khoản đầu tư thâm nhập thị trường và cả một sự đánh giá nghiêm túc về các điểm mạnh, yếu của các đối thủ cạnh tranh – tất cả đều trở thành những yếu tố quan trọng để cân nhắc.

Các công ty với thế mạnh tài chính tốt ở những thị trường có sức tăng trưởng quan trọng tiềm năng thì nên nâng khoản đầu tư để giành lấy lợi thế chiến lược trước các đối thủ cạnh tranh. Những khoản đầu tư quan trọng chẳng hạn như việc tăng gấp đôi lượng tiền mặt cho các cửa hàng mới hoặc thiết kế lại những cửa hàng là một trong những khả năng như vậy. Quan trọng không kém là những khoản đầu tư nhỏ hơn, chẳng hạn như tuyển dụng nhân tài từ những đối thủ cạnh tranh yếu hơn hoặc đầu tư vào việc thực thi thị trường địa phương cẩn thận hơn. Lấy ví dụ, khi một nhà bán lẻ chuyên biệt bắt đầu trải qua việc xuống dốc doanh thu do khách hàng càng ít tới các cửa hàng của mình thì công ty đó cần phải xây dựng ngay một công cụ phân tích để giúp cho các cửa hàng cũng như các thành viên của tổ chức tiếp thị trung tâm sử dụng dữ liệu từ quản lý quan hệ khách hàng (customer-relationship-management – CRM) và cơ sở dữ liệu giao dịch được hiệu quả hơn. Điều này cho phép nhà bán lẻ đoán trước được nhu cầu địa phương tốt hơn cũng như quyết định được những mặt hàng nào nên chiếm bao nhiêu phần trăm trong chiến dịch quảng cáo then chốt của mình. Doanh thu theo cửa hàng có thể so sánh được chắc chắn sẽ tăng lên từ hai đến bốn phần trăm ở những thị trường thử nghiệm cho thấy việc sử dụng công cụ quảng bá mới hiệu quả.

Còn các nhà bán lẻ với tình hình tài chính tốt trong những ngành đã bão hòa cũng có thể tiếp tục phản công bằng cách thực hiện các hành động nhằm tăng trưởng doanh thu nhanh chóng bằng cách định hướng khách hàng hướng tới các cửa hàng thông qua những lời mời chào thuyết phục hơn cũng như khẳng định rằng đội ngũ nhân viên sẵn sàng có mặt ngay lập tức trong việc hỗ trợ bán hàng. Ví dụ như nhà bán lẻ vải vóc North American từng đảo ngược được việc tụt giảm doanh thu, cải thiện được sự thỏa mãn của khách hàng và tăng được tần suất và quy mô trung bình các giao dịch bằng cách tập trung vào việc loại bỏ những hàng hóa tồn kho, tăng tính hiệu quả cho những nhân viên bán hàng trực tiếp và tạo ra những thay đổi nhỏ về sắp xếp cửa hàng nhằm giúp các khách hàng tìm thấy được hàng hóa họ muốn một cách nhanh chóng.

Đối với các công ty có tình hình hoạt động tài chính yếu hơn sẽ cần phải tập trung một cách nhanh chóng hơn vào việc cắt giảm chi phí. Kinh nghiệm gần đây của chúng tôi cho thấy rằng những nhà thực hiện kém hơn có những cơ hội quan trọng để hợp lý hóa được cổ phiếu hàng tồn kho theo đơn vị (Inventory Stock Keeping Units – SKUs) – giải phóng được vốn lưu động – và thương lượng lại được các điều khoản về nguồn trực tiếp. Những công ty này cũng có thể tăng được hiệu quả lôi kéo khách hàng, một lĩnh vực mà họ thường làm khá chậm. Và nhờ việc áp dụng các kỹ thuật điều hành mang tính tình thế để triển khai lại nhân lực, họ có thể rút ngắn được thời gian mà nhân viên sử dụng để làm những công việc không liên quan tới việc tiếp xúc với khách và tăng thời gian dành để trợ giúp các khách hàng. Sự tập trung này nên được thực hiện càng sớm càng tốt đối với những nguồn bán hàng đang có, không chỉ cắt giảm giờ làm mà còn cả chi phí như một tỉ lệ phần trăm doanh thu – điều được coi là định hướng then chốt của tình hình kinh tế.

Và rộng hơn cả là các nhà bán lẻ nên cần có suy nghĩ rằng điều hiệu quả ít nhất để làm trong suốt thời kỳ suy thoái đó là đơn giản hãy “giữ thế” và “vượt qua bão táp”. Bởi dẫu cho không có lối thoát đối với một số khó khăn thì việc nhanh chóng thay đổi để cải thiện sự thực hiện có thể làm giảm lợi thế của một sự sụt giảm lớn trong doanh thu và vị thế của các nhà bán lẻ nhằm thực hiện được đầy đủ hơn trong giai đoạn phục hồi tất yếu tiếp ngay sau thời kỳ suy thoái này.

(SEM Vietnam – Theo Bwportal)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Đi tìm lời giải cho các vấn đề về bán hàng

“Một lần nữa các anh lại không hoàn thành kế hoạch … Giải tán, rặt một lũ lười biếng!”. Trong quá trình kinh doanh, chắc hẳn không ít người ở vị trí lãnh đạo đã từng có ý nghĩ này Chúng ta cùng suy ngẫm lại để xem, liệu có phải tất cả nhân viện đều có lỗi khi công ty không đạt hiệu quả trong bán hàng?

Thực tế đã cho thấy rằng, mọi việc hoàn toàn không phải như vậy. Có thể khẳng định rằng, phần lỗi của bộ phận bán hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm thực sự ít hơn nhiều so với mức người ta thường đổ vấy cho nó. Công việc bán hàng đó chỉ là tấm gương phản ánh tình trạng công việc chung của của tổ chức. Hãy thử ngẫm lại lời người xưa: “Đừng trách người trong gương …” Vậy tại sao chúng ta lại trách cứ, nếu …

Trong một số trường hợp, vấn đề của công ty được gọi đích danh là điểm yếu của bộ phận bán hàng. Một số người sẽ tiến hành phân tích ngay “hệ quy chiếu” của chiến lược “tổ hợp marketing” (marketing mix) nổi tiếng.

Chiến lược marketing – mix cổ điển “4P” lúc này sẽ được chuyển sang “6P”: Product (Sản phẩm), Place (Phân phối), Price (Giá), Promotion (Chiêu thị), People (Con người) và Processes (Quy trình).

Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét yếu tố Phân phối ( Place) – yếu tố có liên hệ mật thiết với công việc của bộ phận bán hàng. Xét từ khía cạnh này, các đặc tính riêng của nó phụ thuộc hoàn toàn vào chiến lược kinh doanh của công ty, nhưng từ khía cạnh khác thì nó lại ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của của chiến lược.

Phân phối (Place)

Yếu tố này phản ánh hiệu quả trực tiếp các hoạt động của bộ phận bán hàng, mà công việc chủ yếu của họ là cung cấp sản phẩm cho khách hàng muốn mua đúng thời hạn và số lượng yêu cầu. Chúng ta sẽ nghiên cứu các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bộ phận bán hàng dưới cách nhìn của “hệ quy chiếu” tổ hợp marketing.

Kênh phân phối

Việc xác định chính các xác kênh phân phối và quan hệ giữa chúng là một phần chiến lược kinh doanh của công ty và thuộc trách nhiệm của lãnh đạo bộ phận bán hàng. Khái niệm kênh phân phối được hiểu là một tập hợp các phần tử của chuỗi luân chuyển hàng hóa, được nối với nhau bằng các dấu hiệu chung và đảm bảo việc ung ứng hàng hóa cho một phân khúc thị trường nhất định. Có một số kênh phân phối như: mạng lưới bán lẻ, điểm bán hàng ngoài chợ, mua sắm trực tuyến, dịch vụ cung cấp hàng hóa tận nhà, v.v.

Cần phân biệt bán hàng trực tiếp và bán hàng gián tiếp. Bán hàng trực tiếp là việc bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng (ví dụ, hình thức giao hàng tận nơi hoặc MLM (marketing đa cấp – hình thức tiếp thị theo mạng lưới mà đại diện là kiểu kinh doanh của một số công ty như Herbalife,Avon, Faberlic, Oriflame, v.v), hoặc hình thức cửa hàng bán lẻ (mạng lưới kinh doanh bán lẻ). Còn bán hàng gián tiếp (thông qua nhiều cấp độ) yêu cầu có sự có mặt của các nhà phân phối trung gian, số lượng cấp độ được xác định bởi chiến lược kinh doanh trên cơ sở của quan niệm tiếp thị. Hầu hết các công ty hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng (FMCG) chọn sơ đồ bán hàng gián tiếp trải rộng từ phân phối độc quyền đến phân phối mở rộng.

Phân phối độc quyền chỉ sử dụng một đối tác trong một khu vực cụ thể và trong một thời gian nhất định. Hình thức hợp tác này hay được sử dụng trong ngành buôn bán xe hơi hoặc hàng hàng hóa chất lượng cao, chẳng hạn như là mỹ phẩm cao cấp, nước hoa, quần áo và rượu đắt tiền, v.v… Tuy nhiên sự phân phối độc quyền vẫn thấy có mặt trên thị trường hàng tiêu dùng.

Không ít trường hợp, các đối tác kiểu này bị hạn chế quyền bán các hàng hóa của các nhà sản xuất khác tuy không phải là hàng hóa cạnh tranh.Đôi khi, hình thức phân phối độc quyền được sử dụng để đưa hàng hóa vào một thị trường cụ thể.

Ví dụ, ở Nga, hãng sản xuất thuốc lá British American Tobacco (BAT) tấn công vào phân khúc thị trường Ho-Re-Ca (Hotel–Restaurant–Café) bằng các hợp đồng độc quyền với các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, cá phê như Elki-Palki, Rostik Group hay Vogue Café và điều đó cho phép công ty này thâm nhập thành công vào thị trường mà trước đó Philip Morris thống lĩnh.

Những vấn đề mà bộ phận bán hàng có thể gặp phải khi lựa chọn hình thức phân phối này gắn liền với nguồn lực hạn hẹp (trước hết là nguồn tài chính) của tổ chức trung gian. Thường thì năng lực của nhà phân phối (ví dụ như tình trạng hậu cần, sự chiếm lĩnh thị trường, nơi đặt ra điều kiện kinh doanh, sự tác động đến người tiêu dùng cuối cùng, các điểm bán lẻ, chất lượng và số lượng đại diện bán hàng cũng như chiến lược lựa chọn) được đánh giá quá cao, điều này dẫn đến việc giảm bớt sự hiện diện của hàng hóa trong cửa hàng về số lượng và chất lượng hoặc gián đoạn cung ứng, mặt khác, dẫn đến khả năng “ngâm vốn” do khách hàng nợ (không đơn giản để có thể có được doanh số từ một khách hàng duy nhất – cá nhân/đơn vị có khả năng đảm bảo trọn vẹn việc lưu thông hàng hóa và sự hiện diện thực sự của hàng hóa trên thị trường).

Với mục đích giảm thiểu chi phí, một công ty sản xuất qui mô lớn đã lựa chọn một tổ chức phân phối hàng hóa trung gian và cho phép nó được độc quyền phổ biến thương hiệu kem đánh răng nổi tiếng.

Mặc dù có sự hỗ trợ quảng cáo liên tục từ nhà sản xuất, với sự thành lập “các bộ phận chuyên biệt” cũng như có sự giúp đỡ tích cực của bộ phận bán hàng nhưng sự hiện diện của hàng hóa tại quầy bắt đầu giảm một cách liên tục, chất lượng của sản phẩm và dịch vụ tại nơi bán hàng bị giảm xuống, và thế là xuất hiện vấn đề với công tác hậu cần, còn các khoản tiền nợ do khách hàng “ngâm” thì lại tăng lên. Chiến lược sử dụng một nhà phân phối duy nhất để lấp đầy thị trường bán lẻ trong một quốc gia rộng lớn bằng sản phẩm có tính chu chuyển nhanh sức tiêu thụ lớn đã tỏ ra không hiệu quả và chứng tỏ công ty không có tầm nhìn dài hạn. Kết quả là công ty sản xuất đã mất vị trí dẫn đầu trên thị trường và sau đó bị buộc phải từ bỏ ý tưởng phân phối độc quyền, chuyển sang sử dụng hệ thống phân phối mở rộng có nhiều đơn vị tham gia.

Thông thường, có một nhóm quản lý đặc biệt được thành lập trong cơ cấu của công ty phân phối độc quyền nhằm tập trung nỗ lực để bán một một sản phẩm cụ thể nào đó (nhóm đó được gọi là nhóm “độc lập” hoặc nhóm “độc quyền” hoặc một bộ phận chức năng chuyên biệt). Dù có các ưu thế rõ nét (như là tiết kiệm chi phí, dễ điều hành, quan hệ chặt chẽ với nhà phân phối), cách làm việc này vẫn ẩn chứa trong mình một mối đe doạ tiềm tàng, trước nhất là liên quan đến rủi ro tài chính và rủi ro chiến lược (sự phụ thuộc công việc kinh doanh vào một đối tác, đối tác này lại ảnh hưởng đến sự hiện diện của hàng hoá và theo đó là vị thế của công ty trên thị trường, làm hạn chế đòn bẩy phát triển kinh doanh v.v…).

Phân phối có lựa chọn được hiểu là sự lựa chọn một số cá nhân/đơn vị trung gian nhất định và/hoặc các cửa hàng bán lẻ với sự kết hợp tối đa của quan niệm tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ.

Khi xâm nhập thị trường LB Nga, nhãn hiệu Vichy đã được triển khai thực hiện chỉ bằng một cách duy nhất là thông qua các hiệu thuốc tây vốn không phải là kênh truyền thống để bán các sản phẩm hóa mỹ phẩm. Quan niệm về sản phẩm, vị thế cao cấp của nó, các tài liệu thông tin quảng cáo kèm theo … như là những yếu tố cần và đủ phù hợp với kiểu phân phối này. Việc lựa chọn các điểm bán lẻ trên thị trường dược phẩm theo nội dung của kênh phân phối này cho phép tạo ra hình ảnh của một sản phẩm có chất lượng, vừa có tác dụng chữa bệnh, vừa có tác dụng trang điểm và hiển nhiên chiếm vị trí dẫn đầu trong phân khúc của mình.

Phân phối mở rộng – hình thức sử dụng một số lượng lớn các nhà phân phối trung gian cũng thể hiện một số nhược điểm do cạnh tranh khốc liệt. Và nếu như có sự thiên vị, ưu tiên riêng cho một nhóm nhà phân phối nào đó, xung đột sẽ xảy ra là điều tất yếu.

Một điểm quan trọng khác nữa là sự phù hợp của kênh phân phối chọn với quan điểm tiếp thị sản phẩm.

Kem OLAY (P&G) là sản phẩm khá đắt tiền, ban đầu thuộc nhóm hàng hóa có nhu cầu rộng rãi, đã được công ty định vị lại như là hàng hóa cao cấp bằng bao bì phù hợp với chiến lược giá cao cùng chiến dịch quảng cáo rầm rộ. Theo cách làm này, trong vài tháng đầu tiên, sản phẩm được đưa ra thị trường bằng hình thức độc quyền thông qua một mạng lưới buôn bán hóa mỹ phẩm nổi tiếng. Tại cửa hàng, công ty cho bố trí thiết bị kỹ thuật cao để truy cập thông tin chuyên ngành, có nhân viên tư vấn làm việc thường xuyên v.v… Điều này đã tạo ra hình ảnh về một loại sản phẩm sang trọng để sau đó có thể đưa vào trong kênh phân phối qui mô lớn. Sự thành công của giải pháp P&G trở nên rõ ràng hơn nếu như nhớ rằng, một vài năm trước đây, công ty này đã từng thực hiện một cuộc thử nghiệm không mấy thành công nhằm đưa sản phẩm này ra thị trường.

Nguyên nhân thất bại trong kinh doanh thường là do có sự không phù hợp ctrong việc lựa chọn kênh bán hàng với quan niệm tiếp thị sản phẩm, sự lựa chọn kênh không chính xác hoặc là sự kết hợp của các điều kiện này.

Một vài năm trước, một công ty lớn tung ra thị trường một loại mỹ phẩm trang điểm bằng cách sử dụng kênh phân phối qui mô lớn, nghĩa là, cung ứng cho một mạng lưới rộng khắp cửa hàng bán lẻ. Tuy nhiên, công việc kinh doanh mỹ phẩm trang điểm đòi hỏi phải tuân thủ mô hình giá cả được xác định, đảm bảo cung cấp cho cửa hàng các trang thiết bị cần thiết và một số phương pháp tiếp cận khác để bán hàng. Việc sử dụng phương pháp phân phối qui mô lớn để bán hàng theo cách này đã tỏ ra không hiệu quả. Dự án đã thất bại do có sự không phù hợp giữa sản phẩm và kênh phân phối. Sau đó, công ty này đã từ bỏ hình thức phân phối qui mô lớn và tìm tới sự giúp đỡ của nhà phân phối độc quyền.

Hoạt động của hệ thống bán hàng đa cấp với các kênh bán hàng khác thường gắn liền với sự phức tạp. Hệ thống kiểu này đòi hỏi một cách chi tiết các điều kiện hoạt động kinh doanh đối với mỗi kênh bán hàng và một sự hiểu biết rõ ràng chiến lược kinh doanh. Sai lầm có thể dẫn đến việc nảy sinh sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà phân phối (ví dụ như trên toàn quốc và trong từng khu vực) hoặc giữa nhà phân phối trung gian và nhà sản xuất sản phẩm, hơn nữa, nhà sản xuất không phải lúc nào cũng là kẻ thắng cuộc… nếu nói một cách trung thực về thành công trong cuộc chiến giá cả, thì rõ ràng là không có người chiến thắng.

Cần bao nhiêu nhà phân phối để công việc có hiệu quả? Trong năm 2005, Japan Tobacco International đã cắt giảm số lượng các đại lý từ 80 xuống còn11; British American Tobacco hợp tác với một số nhà phân phối chuyên về bán hàng trực tiếp. Volkswagen lên kế hoạch mở rộng mạng lưới đại lý ở LB Nga từ 45 đến 110 điểm, Audi làm việc với khoảng 30 đại lý trung tâm, nhưng Toyota thích có ít nhất là hai đại lý ở mỗi khu vực với niềm tin rằng điều này cho phép nó duy trì được sự độc lập đối với các đối tác kinh doanh.

Việc điều tiết số lượng khách hàng trực tiếp thường dẫn đến mâu thuẫn với nhà phân phối. Bộ phận bán hàng cần thực hiện quy trình đã được duyệt một cách cẩn thận nhất. Không có kiến nghị chung nào về số lượng tối ưu các nhà phân phối cũng như số lượng cấp trong hệ thống bán hàng phức tạp. Có lẽ là số lượng cần được giảm thiểu tối đa để đạt được độ phủ lớn nhất về số lượng và chất lượng của các điểm bán lẻ trong một khu vực, hoặc là phục vụ khách hàng một cách chất lượng và cạnh tranh nhất (trong trường hợp cung cấp dịch vụ). Lúc này việc xác định sự lựa chọn của loại hình phân phối chỉ ra loại hình sản phẩm (dịch vụ), tính chất của nó, quan điểm tiếp thị, cũng như tình hình thị trường hiện tại và tình hình cạnh tranh.

Chiến lược kinh doanh là một phần kế hoạch phát triển tổng thể của công ty. Đối với các tổ chức làm việc trong ngành FMCG, sự chuyển đổi sang mạng lưới bán lẻ trực tiếp trong thời gian gần đây trở thành bắt buộc trong cuộc chiến cạnh tranh giành giật thị trường. Đồng thời sự phát triển của mạng lưới cửa hàng cũng trở thành nguy cơ của chính sự tồn tại phương thức bán lẻ truyền thống.

Không phải ngẫu nhiên mà tỷ trọng cửa hàng kiểu truyền thống từ năm 2003 đến năm 2004 giảm từ 75% xuống còn 67%, trong khi tỷ lệ phần trăm các điểm bán hàng hiện đại (modern trade) tăng từ 8% năm 2003 lên 23,8% vào năm 2005. Theo dự báo, tỷ trọng của cửa hàng hiện đại vào năm 2010 là khoảng từ 44 đến 61%.

Rõ ràng, tính chất và tham số các nhà phân phối sẽ thay đổi dưới sự ảnh hưởng của các yếu tố này.

Sự lựa chọn các nhà phân phối

Sau khi đã xác định chiến lược kinh doanh và kênh bán hàng, bây giờ chúng ta cần phải lựa chọn đối tác. Ở giai đoạn này cũng có thể sẽ xuất hiện những khó khăn dẫn đến thất bại. Sự lựa chọn sai nhà phân phối trung gian, mặc dù chỉ do một trong những tiêu chí liệt kê dưới đây, cũng đem lại sự thiệt hại cho vị thế thị trường không phải chỉ của một công ty.

Trong việc tìm kiếm nhà phân phối, cần phải dựa vào các tiêu chí sau đây:

1. Năng lực: khối lượng bán hàng và nhịp độ tăng trưởng, tỷ trọng và thị phần (số lượng người mua, cơ cấu của họ, tỷ lệ của mức bán buôn và bán lẻ), thị phần của các nhóm khách hàng mục tiêu (nhà sản xuất quan tâm), thực trạng cơ cấu bán hàng (số lượng các đại diện bán hàng, bao gồm cả những người bán hàng theo giá niêm yết, hiệu quả của họ), sự xâm nhập vào thị trường khu vực (số lượng các chi nhánh, vị trí của họ, thị phần của những khách hàng chủ yếu tại thị trường địa phương), v.v.

2. Chỉ số về công tác hậu cần: Diện tích và tình trạng của nhà kho, bao gồm cả tại các địa phương, thể tích chứa hàng, đặc điểm về giao thông vận tải, chu kỳ cung ứng, chỉ số hàng lưu kho bị hỏng. Thông số này ngày càng trở nên quan trọng hơn trong tình huống khi tình hình thị trường thay đổi các nhà phân phối bắt đầu định vị lại mình giống như nhà cung ứng hậu cần, mặc dù trong thực tế chức năng của họ rộng lớn hơn nhiều.

3. Thực trạng các chỉ số tài chính: giá trị và biến động công nợ, độ quay vòng dữ trữ kho; khả năng thanh toán; nhu cầu vốn lưu động; điều khoản đối với người mua.

4. Hình ảnh. Chỉ tiêu quan trọng này thường bị bỏ qua, mặc dù hình ảnh của nhà trung gian là một phần thương hiệu bán hàng của họ. Trong ví dụ đã nói ở phần trên, người ta sử dụng mạng lưới bán lẻ mỹ phẩm là kênh phân phối sản phẩm xem OLAY như là một sản phẩm cao cấp. Hãy thử hình dung nếu như những hộp kem này được bán ngoài chợ bên cạnh bột giặt và dầu gội đầu? Thực sự là điều không tưởng nếu trên thực tế đã xảy ra như vậy (với các hàng hóa khác, cũng đúng như vậy)!

Vấn đề về sự phù hợp của việc giới thiệu hình ảnh, danh tiếng của nhà sản xuất và nhà phân phối trung gian rất quan trọng để thực hiện kế hoạch bán hàng. Công việc lựa chọn nhà phân phối trung gian là một yếu tố cốt lõi của các chính sách tiếp thị.

Trong những năm 90 của thế kỷ XX, nhà máy sản xuất xe tải KAMAZ cung cấp cho đại lý tại Ba Lan một lô sản phẩm. Đại lý Ba Lan ngay lập tức bán lại cho Hàn Quốc với giá gấp hai lần giá mua. Người Hàn Quốc chỉ sau một vài chỉnh trang nhỏ là bán ngay cho Mỹ Latinh theo giá hơn gấp rưỡi giá mua từ Ba Lan. Kết quả là, chỉ vì KAMAZ lựa chọn nhà phân phối trung gian sai mà không đạt được ít nhất là ba phần tư của lợi nhuận của mình.

Cơ sở dữ liệu khách hàng

Tập hợp các vấn đề có thể phát sinh do lỗi bộ phận bán hàng không bị giới hạn bởi sự lựa chọn kênh tiêu thụ và các nhà phân phối cụ thể. Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là sự hiện diện của cơ sở dữ liệu khách hàng chung của công ty và nhà phân phối trung gian.

Bạn có biết mình đang thực sự làm việc với ai? Vấn đề này không đơn giản như vậy. Sự hợp tác thành công bắt đầu từ việc tạo ra một cơ sở dữ liệu chung. Những vấn đề thường xuyên gặp phải trong giai đoạn này liên quan đến các yếu tố sau:

1. Công ty hoàn toàn dựa vào các nhà phân phối để sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng của họ, khi đó nhà sản xuất không quan tâm đến đến việc phân phối sản phẩm, họ chỉ quan tâm đến việc hoàn thành kế hoạch bán hàng và đạt được tốc độ tăng trưởng. Công ty kiểu này hoạt động gần như bị mù, và sự phức tạp của bán hàng không chờ đợi ai. Không có cơ sở dữ liệu là khởi nguồn của các vấn đề không thể tránh khỏi.

2. Cơ sở dữ liệu đang có nằm trong khuôn khổ các khách hàng mua sản phẩm trực tiếp. Đây chỉ mới là khởi đầu của chuỗi lưu thông hàng hóa! Khi không biết đường đi tiếp theo của hàng hoá, khi không kiểm tra, kiểm soát được (dù chỉ là theo dõi) chúng, công ty sẽ không ở trong tình trạng đảm bảo được khả năng cạnh tranh cho tất cả các nhánh của chuỗi. Đối với công ty hoạt động, ví dụ là trong thị trường hàng tiêu dùng, thì thông tin về các địa điểm bán lẻ hàng hóa, quan trọng hơn so với dữ liệu về các nhà phân phối trực tiếp.

3. Giới hạn thông tin về khách hàng. Thường là các thông tin đưa vào cơ sở khách hàng công ty, nằm trong giới hạn các thông tin chính thức (địa chỉ, số điện thoại, họ tên các đại diện bán hàng, tổng khối lượng bán hàng, trong trường hợp tốt nhất là có được thêm biến động bán hàng trong năm, mô tả về hoạt động chung). Giá trị thực tế của nguồn thông tin này là ít nhất, cơ sở dữ liệu cần có thông tin nhiều nhất về đối tác (xem phần trên).

4. Cơ sở dữ liệu của công ty bị chia cắt giữa các nhân viên bán hàng; mỗi người trong số họ có “khách hàng của mình”. Mặc dù có mối nguy hiểm thấy rõ về việc mất khách hàng khi nhân viên bỏ việc (điều này xảy ra thường xuyên và sát sườn!), người phụ trách phòng dịch vụ bán hàng vẫn tiếp tục phạm phải sai lầm này.

5. Thiếu sự hoạt động cặp nhật thông tin định kỳ vào cơ sở dữ liệu. Không ít công ty vẫn xử lý thông tin từ kết quả kiểm toán thực hiện trước đây ba bốn năm, mặc dù tình hình trên thị trường đã thay đổi từ lâu. Như đã biết là tỷ trọng các cửa hàng bán lẻ dạng thương mại hiện đại đã tăng từ 8% năm 2003 lên 23,8% vào năm 2005. Cơ sở dữ liệu từ ba năm trước, không phản ánh tình hình thực tế sự việc, sử dụng chúng hoặc, tồi tệ hơn là, dựa vào đó để thiết lập chiến lược kinh doanh làm liên tưởng tới việc vừa lái xe hơi tốc độ cao vừa nhìn vào gương chiếu hậu.

Trong phần này, chúng ta đã xem xét các vấn đề chính của việc xây dựng mạng lưới lưu thông tiêu thụ như là một công cụ cần thiết để dịch chuyển hàng hóa sang phân phối qui mô lớn. Tuy nhiên việc xây dựng các kênh bán hàng, sự lựa chọn các đối tác và xây dựng một hệ thống phân phối chỉ là một phần nhỏ của chiến lược kinh doanh, những yếu tố quan trọng khác nữa là việc nghiên cứu và đáp ứng với môi trường kinh doanh.

(SEM Vietnam – theo Bwportal)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png