Đi tìm mô hình kinh doanh trong suy thoái

Một trong tám chủ đề được thảo luận tại Hội nghị Doanh nghiệp châu Á là “Thế hệ doanh nhân mới của châu Á: Sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước”.

business-plan-workshopChúng tôi đã phỏng vấn một số diễn giả sẽ tham gia cuộc thảo luận về những vấn đề như mô hình kinh doanh thành công, doanh nghiệp xoay xở như thế nào trong giai đoạn khó khăn hiện nay.

Nếu ai cho rằng kinh tế suy thoái sẽ làm mọi người nhụt chí khởi nghiệp, thì nên nghĩ lại. Cứ nhìn vào thống kê số lượng doanh nghiệp mới thành lập trên mục Khởi nghiệp của tờ TBKTSG có thể thấy rằng ở TPHCM, mỗi tuần có từ 300 – 400 doanh nghiệp được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp phép thành lập, nghĩa là trung bình mỗi ngày vài chục doanh nghiệp được khai sinh.

Các số liệu thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp mới thành lập trong ba tháng đầu năm ở TPHCM không hề giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Quí 1 năm nay đã chứng kiến gần 4.050 doanh nghiệp ra đời, tăng hơn 150 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm ngoái!

Như vậy, việc mở công ty trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay vẫn cứ như là một việc làm bình thường trong cuộc sống, bất kể Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi cơn suy thoái toàn cầu.

Cơ hội khởi nghiệp trong suy thoái

Nhiều người nước ngoài có kinh nghiệm làm ăn ở Việt Nam nhận xét rằng người Việt Nam dường như rất thích tự mình làm ăn kinh doanh. Doanh nhân nước ngoài cho rằng trong một đại gia đình người Việt thế nào cũng có vài thành viên đang tham gia kinh doanh. Tinh thần khởi nghiệp dường như đã có trong “máu” của rất nhiều người Việt Nam, chẳng thế mà cho dù có nhìn thấy nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh phá sản trong thời gian gần đây, không ít người vẫn quyết chí khởi nghiệp.

Tổng giám đốc người Mỹ Walter Blocker của Công ty Gannon Việt Nam cho rằng thời điểm hiện nay không phải là hoàn toàn khó khăn cho những ai muốn khởi nghiệp. Theo đánh giá của ông, chi phí vốn bây giờ đã rẻ hơn nhiều so với năm ngoái và nguồn vốn kinh doanh lưu động của doanh nghiệp rất ít rủi ro gặp phải những biến động bất thường.

Bên cạnh những yếu tố trên, ông Blocker cũng như nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho rằng nhu cầu của thị trường Việt Nam vẫn còn rất lớn, nhất là thị trường này vẫn đang tiếp tục phát triển ở nhiều ngành nghề. Steven Liao, Phó tổng giám đốc Cathay Life Insurance Việt Nam, cho rằng không phải tất cả mọi người đều bị tác động mạnh bởi cuộc đại khủng hoảng này. Người ta vẫn mua sắm, vẫn sử dụng dịch vụ. Vấn đề là người kinh doanh phải tìm ra cho được nhóm khách hàng của mình là ai để bán được hàng. “Dù Công ty Cathay Life Insurance chính thức hoạt động vào năm ngoái, thời điểm kinh tế Việt Nam bắt đầu gặp khó khăn, nhưng chúng tôi vẫn nhìn thấy cơ hội,” ông Liao nói một cách lạc quan.

Cách đây không lâu, tờ BusinessWeek dẫn lời của Paul Kedrosky, một thành viên cao cấp của Kauffman Foundation, cho rằng chính những doanh nghiệp ra đời trong thời buổi khó khăn có tỷ lệ trụ lại được cao hơn so với bình thường. Ông nói: “Các công ty được thành lập trong thời kỳ kinh tế kém sáng sủa lại có khuynh hướng thành công nhiều hơn. Những người khởi nghiệp trong thời kỳ này thường có một động cơ rõ rệt, và họ làm việc trên một tinh thần hết sức tiết kiệm trong mọi chi phí”.

Theo ông Blocker, huy động vốn để khởi nghiệp hiện nay không còn dễ dàng như vài ba năm trước, khi nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào Việt Nam rất nhiều. “Nhưng không phải là không thể. Một kế hoạch kinh doanh tốt đi cùng với những con người giỏi, chắc chắn sẽ tìm được vốn để kinh doanh”, ông nói đến những điều kiện căn bản nhất của một dự án khởi nghiệp trong hoàn cảnh hiện nay.

Tuy nhiên, khi đã thành lập doanh nghiệp, liệu rằng có một mẫu hình chung nào để các doanh nghiệp mới, hay nói rộng hơn là thế hệ doanh nhân trẻ Việt Nam có thể ứng dụng thành công trong thời kỳ này cũng như cho thời hậu khủng hoảng?

Để thành công cho bây giờ và hậu suy thoái

Nhà lãnh đạo năng động, đội ngũ nhân sự giỏi, mô hình kinh doanh uyển chuyển đi kèm với hướng phát triển rõ ràng và một hệ thống quản trị tốt tạo thành mô hình chung cho thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào. Nhưng đó cũng chỉ là những tiêu chuẩn tổng quát.

Ông Lý Quí Trung, Tổng giám đốc Phở 24, cho rằng: “Muốn thành công, các doanh nhân Việt Nam phải thay đổi tư duy kinh doanh. Khởi nghiệp, mở công ty ở Việt Nam, nhưng phải mang dáng dấp khu vực”. Theo ông, các thương hiệu quốc tế đã vào thị trường Việt Nam trên mọi lĩnh vực, vì thế, dù muốn dù không các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài nặng ký đang có mặt ngay trên sân nhà và cả những đối thủ sắp bước vào cuộc đua.

Tình hình kinh tế biến động bất thường trong thời gian qua đã để lại cho giới doanh nhân Việt Nam nhiều bài học, từ khả năng ứng phó trước khủng hoảng, chuyện dàn trải trong đầu tư, xa rời năng lực lõi cho đến việc bỏ bê khách hàng truyền thống. Đối với nhiều người, thời gian qua còn giúp họ nhận ra giá trị của kiến thức.

Kiến thức đã trở thành điều kiện cần cho một doanh nhân trong một môi trường kinh doanh đầy biến động như thời gian qua. Ngoài những kiến thức kinh doanh cơ bản, những hiểu biết về ngành nghề hoạt động, người chủ doanh nghiệp còn cần có một nền tảng kiến thức kinh tế vững vàng cũng như những am hiểu nhất định về tình hình kinh tế – chính trị thế giới. “Có kiến thức vững vàng, người lãnh đạo sẽ dễ bình tâm trong lúc tình hình xung quanh hoảng loạn và dễ đưa ra quyết định thích hợp”, ông Trung nói.

Đi nhiều và tiếp xúc nhiều cũng là một đòi hỏi bắt buộc nếu các doanh nhân muốn thành công. Trong kinh doanh, người ta hơn nhau là ở khả năng nắm bắt thông tin, dự đoán được xu thế của thị trường. Vì thế việc đi ra bên ngoài để xem cộng đồng doanh nhân trên thế giới đang suy nghĩ như thế nào, đang làm gì và sắp làm gì, là điều mà ai cũng cho là nên làm. Đối với ông Trung, tham gia một kỳ hội thảo ở nước ngoài là dịp để bổ sung kiến thức, nắm bắt xu hướng kinh doanh.

Ông Trung đưa ví dụ: gần đây trên thế giới người ta đang nói nhiều đến hiện tượng nóng lên của trái đất. Những đứa trẻ đã được giáo dục ý thức bảo vệ môi trường rất cao. Điều này sẽ buộc những doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng xuất khẩu phải tính toán đến công nghệ sản xuất, nguồn nguyên liệu, thậm chí cả loại bao bì sản phẩm ngay từ bây giờ nếu muốn có một chỗ đứng trên thị trường trong tương lai khi những đứa trẻ bây giờ sẽ là người tiêu dùng sau này.

Ông Blocker cho rằng dù doanh nghiệp của bạn kinh doanh trong lĩnh vực nào, ở bất kỳ thời điểm nào, muốn thành công phải có con người giỏi, đam mê công việc. Có người giỏi thì sẽ có kế hoạch kinh doanh tốt, có kế hoạch kinh doanh tốt ắt sẽ tìm được nguồn tài chính để thực hiện.

“Khi chuẩn bị cho một dự án kinh doanh mới của mình, tôi phóng ý tưởng của mình đến tương lai, ở đó tôi sẽ biết mình phải làm gì. Tôi quay lại hiện tại và biết mình cần phải tìm được ai để thực hiện ý tưởng này…”, ông chia sẻ. Bí quyết thành công ở Việt Nam của ông Blocker là khi đã làm xong bản kế hoạch kinh doanh, hãy dự phòng gấp đôi thời gian và gấp đôi nguồn vốn!

( SEMvietnam – Theo Thesaigontimes )

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Làm thương hiệu khác gì với làm marketing?

“Khi nhìn thương hiệu, người tiêu dùng nghĩ đến nhiều sản phẩm khác nữa…”. Những năm trở lại đây, thương hiệu luôn là một đề tài nóng hổi trong bàn tròn thảo luận kinh tế của nước ta.

bantrungSự quan tâm đã có từ lâu, nhưng ắt hẳn thương hiệu trở thành mối quan tâm thời thượng khi gạch Đồng Tâm (Long An) và gỗ Hoàng Anh (Gia Lai) bắt đầu lấn sân kinh doanh sang bóng đá, thương hiệu của hai doanh nghiệp lớn này đột nhiên tăng vọt, tạo cảm hứng cho các công ty bắt đầu quan tâm thực sự đến thương hiệu của mình.

Cách thức vận hành marketing trong quá trình lưu thông hàng hóa

Từ “Marketing” thì đã có từ lâu, nhưng “thương hiệu” thì chỉ mới có từ khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước. Vậy một câu hỏi đặt ra là, thương hiệu có phải là marketing hay không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta bắt đầu bằng định nghĩa căn bản nhất. Mục tiêu của Marketing là làm cách nào để đưa hàng hóa của mình đến tay người tiêu dùng nhanh nhất và nhiều nhất. Trong khi, mục tiêu của thương hiệu là gia tăng sự nhận biết của nhãn hiệu của mình trong tâm trí người tiêu dùng theo sự định vị của mình.

Ở một số công ty, bộ phận thương hiệu tách rời với bộ phận marketing. Nhưng cũng có rất nhiều công ty, với ý thức là thương hiệu và marketing đều tập trung đối tượng là người tiêu dùng nên bộ phận thương hiệu là một phần của bộ phận marketing.

Phòng Marketing của một công ty thường có 4 bộ phận, với 4 nhiệm vụ khác nhau:

- Kinh doanh: có nhiệm vụ bán hàng cho các điểm bán, mở rộng điểm bán, tăng chất lượng đơn hàng, phủ hàng…

- Trade Marketing (tiếp thị thương mại): có nhiệm vụ hỗ trợ bán hàng đến các điểm bán, bằng những chương trình khuyến mãi cho chủ điểm bán hay những giá trị gia tăng cho chủ điểm bán.

- Customer Marketing (tiếp thị tiêu dùng): có nhiệm vụ hỗ trợ bán hàng đến người tiêu dùng, giảm tồn kho tại quầy kệ điểm bán, tạo những giá trị gia tăng cho người tiêu dùng.

- Brand Marketing (tiếp thị nhãn hiệu): có nhiệm vụ gia tăng sự nhận biết nhãn hiệu trong tâm trí người tiêu dùng theo sự định vị của công ty.

Ở một số công ty nhỏ, kinh doanh thường làm luôn việc của tiếp thị thương mại, và tiếp thị tiêu dùng thường làm luôn việc của thương hiệu. Do vậy nó chỉ có 2 bộ phận dưới quyền điều khiển của ông giám đốc kinh doanh và tiếp thị.

Bốn bộ phận này chịu trách nhiệm tương hỗ trong quá trình lưu thông của hàng hóa. Hàng hóa được xuất ra khỏi kho, bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm bán hàng đến điểm bán bằng cách phủ hàng (chỉ tiêu độ phủ, chỉ tiêu số lượng trên quầy kệ…). Nếu bộ phận kinh doanh đã hoàn thành việc phủ hàng mà không gia tăng được doanh số bán, chủ điểm bán không chịu mua hàng thì đó là trách nhiệm của bộ phận tiếp thị thương mại. Tiếp thị thương mại phải ra những chương trình khuyến mãi nhằm gia tăng lợi nhuận cho điểm bán.

Nếu chủ điểm bán đã chịu ôm hàng (mua hàng nhiều), mà tồn kho trên quầy kệ vẫn cao, khách hàng (người mua hàng) chưa chịu mua thì đó là trách nhiệm của bộ phận tiếp thị tiêu dùng. Nếu bộ phận tiếp thị tiêu dùng đã hoàn thành trách nhiệm gia tăng khuyến mãi cho người mua hàng mà người tiêu dùng (người sử dụng) không chịu sử dụng thì đó là lỗi của bộ phận tiếp thị nhãn hiệu (hay thương hiệu).

Do vậy, nếu Thương hiệu của một sản phẩm mạnh, thì thường bán hàng nhanh, và ngược lại. Nếu Thương hiệu mạnh (tạm gọi là qui trình thứ nhất), thì người sử dụng thích sử dụng sản phẩm bắt buộc người mua phải mua hàng. Người mua cũng bắt buộc phải mua sản phẩm đó, cho dù là chủ điểm bán cố gắng nài ép sang sản phẩm khác. Chủ điểm bán thấy hàng hóa trên quầy kệ của mình ra nhanh, tồn kho trên quầy kệ thấp, thì mặc nhiên là họ sẽ mua hàng cùa công ty.

Tuy nhiên về quy trình ngược lại (tạm gọi là qui trình thứ hai), nếu công ty không có những chương trình khuyến mãi cho chủ điểm bán, cũng như độ phủ rất thấp, thì dù thương hiệu có mạnh đi nữa thì cũng mau chóng đi vào quên lãng trong tâm trí của người tiêu dùng.

Các công ty thường quan tâm đến quy trình thứ nhất về lâu dài, tức là chiến lược thương hiệu. Quy trình thứ hai được sử dụng tức thời, tức là chính sách tiếp thị. Do vậy, cả 3 bộ phận trong phòng marketing phải hiểu rõ được chính sách thương hiệu của công ty qua chu kỳ sống sản phẩm.

Chiến lược thương hiệu

Chiến lược thương hiệu chính là một phần của chiến lược marketing. Muốn có một chiến lược thương hiệu, các công ty thường vạch ra cho mình một tầm nhìn thương hiệu (brand vision). Công ty phải cho ra được những dự đoán của mình về xu thế của văn hóa tiêu dùng trong ngành hàng mà mình đang kinh doanh trong vòng 5-10 hay 20 năm nữa. Qua đó, họ sẽ cho ra được chiến lược thương hiệu (brand strategy) nhằm xác định những phân khúc nào mà mình sẽ chú trọng, và thương hiệu của mình sẽ nằm ở đâu trong bản đồ thương hiệu trong ngành trong vòng 5-10 năm nữa.

Sau khi có được chiến lược thương hiệu, công ty mới bắt đầu có những chính sách thương hiệu trong mỗi chu kỳ sống của sản phẩm.

Chẳng hạn, trong thời kỳ đầu của chu kỳ sống sản phẩm, chính sách thương hiệu là tung ra nhận diện thương hiệu (brand Id) giúp cho người tiêu dùng nhận biết được thương hiệu của mình trong vô số thương hiệu trong cuộc sống. Hệ thống nhận diện thương hiệu phải đi suốt quá trình của chiến lược.

Khi tung sản phẩm ra thị trường thì chính sách thương hiệu sẽ là cách thức tiếp thị đến khách hàng hay chủ điểm bán như thế nào để phù hợp với tầng cấp (level) mà chiến lược thương hiệu đã chọn. Thương hiệu ở tầng cấp cao, mà cách thức tiếp thị thể hiện tầng cấp thấp thì không được.

Khi doanh số sản phẩm bắt đầu tăng tốc thì chính sách thương hiệu là đuổi bám các thương hiệu đang dẫn ở phía trước, bằng cách gia tăng cường độ của tiếp thị. Khi doanh số sản phẩm đã bão hòa thì chính sách thương hiệu là giữ vị thế của thương hiệu của mình, bằng cách nhắc nhở người tiêu dùng về sự tồn tại của thương hiệu… Nếu như lúc này, thương hiệu đã đạt được mục tiêu do chiến lược thương hiệu đưa ra thì các công ty thường duy trì mức hiện tại và tìm kiếm một thương hiệu mới để thay thế.

(SEMvietnam – Theo TBKTSG)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Chiến lược marketing qua Internet

Những điều cần cân nhắc để có thể phát triển chiến lược Internet marketing (Marketing trực tuyến) một cách hiệu quả cho việc kinh doanh.

Tìm hỗn hợp chiêu thị đúng:

Bao nhiêu phần trong chiến lược marketing của bạn sẽ được thực hiện trực tuyến? nguyên lý tiếp thị trên Internet nào được sử dụng, tầm quan trọng của website … tất cả còn tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh của công ty, ngân sách và bao gồm cả dấu ấn cá nhân doanh nghiệp.

Xem chi tiết

Giảm chi phí tiếp thị bằng website

Nếu ứng dụng tốt, thương mại điện tử sẽ là công cụ tiếp thị sản phẩm đắc lực và ít tốn kém nhất.

Trong buổi tọa đàm về giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin tăng doanh số, giảm chi phí tổ chức ngày 7- 3, tại TPHCM, Công ty Nghiên cứu thị trường TNS Media VN công bố kết quả khảo sát của mình vào tháng 12-2008 mang nhiều yếu tố bất ngờ:

Xem chi tiết

Quá trình thanh toán: Lời khuyên cho những doanh nghiệp mới

Trả tiền bằng thẻ tín dụng là phương thức đáng được nghĩ tới đầu tiên khi thực hiện trả tiền qua mạng. Một vài người vẫn cảm thấy miễn cưỡng khi sử dụng thẻ tín dụng trên mạng, nhưng nói chung thẻ tín dụng đã trở thành một phương thức tiêu chuẩn trong việc chi trả qua mạng.

cardĐôí với các công ty kinh doanh quy mô nhỏ trên mạng, quá trình trả tiền là một vấn đề đặc biệt quan trọng.Toàn bộ quá trình có vẻ như không hề phức tạp và có thể thực hiện một cách trôi chảy(Không đề cập đến những câu chuyện liên quan đến thủ đoạn của một số công ty thẻ tín dụng). Trong bài viết này chúng tôi sẽ chỉ ra làm thế nào để thực hiện quá trình trả tiền và làm thế nào để tránh gặp phải một vài những cạm bẫy mà các công ty nhỏ dễ gặp phải.

Thẻ tín dụng

Trả tiền bằng thẻ tín dụng là phương thức đáng được nghĩ tới đầu tiên khi thực hiện trả tiền qua mạng. Một vài người vẫn cảm thấy miễn cưỡng khi sử dụng thẻ tín dụng trên mạng, nhưng nói chung thẻ tín dụng đã trở thành một phương thức tiêu chuẩn trong việc chi trả qua mạng.

Có thể thực hiện kinh doanh trên mạng mà không cần đến thẻ tín dụng, nhưng điều đó chỉ thực sự có thể nếu như bạn ở thế có thể thúc đẩy việc mua bán. Vì thế, phần lớn các công ty kinh doanh nhỏ trên mạng cần đến thẻ tín dụng.

Thẻ tín dụng sử dụng trên mạng như thế nào?

Nó làm việc như thế nào? Kết quả mong muốn là tiền được chuyển từ tài khoản thẻ tín dụng của khách hàng đến tài khoản ngân hàng của người bán. Vấn đề phát sinh đầu tiên là người bán không thể sử dụng một tài khoản ngân hàng cũ nào, mà phải là một tài khoản thương mại, mà trong một số trường hợp cụ thể được goi là tài khoản thương mại điện tử.

Các bước để thực hiện trả tiền bằng thẻ tín dụng qua mạng như sau:

  1. Khách hàng điền các chi tiết vào bản khai bảo hiểm khi dùng mạng, đây là một phần trong hệ thống bán hàng được cung cấp bởi công ty dịch vụ Web-Store.Tiếp đến phải chứng thực xem số tài khoản và địa chỉ đó có tồn tại hợp lệ hay không.
  2. Các thông tin đã kê khai sẽ được chuyển từ bộ phận quản lí kinh doanh của công ty Web-Store đến các tập đoàn thẻ tín dụng( Như Visa hay Mastercard) hay mạng lưới chuyên về quá trình chi trả.
  3. Công việc kinh doanh có phát triển hay lụi tàn đi là phụ thuộc vào trạng thái giới hạn tín dụng của khách hàng. Nếu nó được ủy quyền thực sự thì tài khoản sẽ được giữ để phát triển việc kinh doanh.
  4. Kết quả sẽ được phản ánh trực tiếp trong hiệu quả kinh doanh. Sau khi thực hiện xong quá trình này, các ông chủ kinh doanh có thể đưa ra một yêu cầu thỏa thuận về một quan hệ tài chính để từ đó chuyển giao tiền được dễ hơn.

Vấn đề gặp phải khi dùng thẻ tín dụng

Phần lớn các vấn đề gặp phải sử dụng thẻ tín dụng lại không liên quan đến công ty cung cấp thẻ hay mạng lưới chi trả mà lại là với cơ quan thực hiện các tài khoản kinh doanh. Tất cả là câu hỏi của sự mạo hiểm. Các nhà cung cấp tài khoản kinh doanh có cho rằng họ phải chịu đưng tổn thất nếu hiệu quả kinh doanh không bảo đảm, và vì thế không bảo đảm được duy trì tài khoản.

Các nhà băng có danh tiếng và các cơ quan tài chính hạn chế sự mạo hiểm của họ bằng việc rất kĩ tính chọn lựa xem họ sẽ cung cấp tái khoản kinh doanh cho ai. Các công ty khác thì dễ dàng hơn, nhưng họ đổi lại sẽ đòi hỏi tỷ lệ lãi cao hơn rất nhiều. Có những công ty tiếp nhận 100% khách hàng và với tiền cước thấp. Những công ty đó đang rất liều lình và luôn đặt mình trong thế mạo hiểm. Điều đó không thực sự có hại mà điều thực sự quan trọng là họ sẽ nhận được những gì xứng đáng với cái họ đã bỏ ra.

Không cần tài khoản kinh doanh

Có thể bạn không cho rằng việc chi trả qua mạng là quá phức tạp_ và bạn đã đúng. Tuy vậy, có tới hàng trăm công ty mời chào bạn sử dụng dịch vụ của họ mà cho phép bạn chi trả bằng thẻ tín dụng không cần mở tài khoản kinh doanh. Các cước phí thường thường là lớn hơn khi sử dụng thẻ tín dụng thuận tiện và vì thế sẽ có một vài yêu cầu riêng, đối với những công ty mới thành lập thì đây coi như một giao kèo có giá trị. Một cảnh báo nho nhỏ là : không loại trừ khả năng có những mưu mô bất lợi cho bạn từ phái các công ty đó, vì vậy, cần rất cẩn thận. Kiểm tra công ty đó và hỏi ý kiến chuyên gia là những bước không thể thiếu trước khi bạn kí vào hợp đồng.

Kiểm tra trên mạng

Thanh toán điện tử đã có mặt từ vài năm nay, nhưng mới thực sự phát triển trong thời gian gần đây. Chúng ta không hề nghi ngờ về một ngày gần đây sẽ có sự lưu hành tiền điện tử quy mô toàn cầu, nó sẽ khiến cuộc sống trở nên dễ dàng hơn và bằng cách nào, vẫn phải chờ tương lai.

Tóm lại

Tóm lại, một yêu cầu gần như bắt buộc cho các công ty kinh doanh quy mô nhỏ trên mạng là sử dụng thẻ thanh toán tín dụng, nếu bạn muốn tránh gặp phiền nhiễu thì tốt nhất là tránh quá tình trả tiền bằng các dịch vụ khác. Nếu bạn gặp khó khăn trong quá trình sử dụng một tài khoản kinh doanh nào đó, hãy thử cách khác. Hệ thống kiểm tra và theo dõi trên mạng là những địa chỉ rất tin cậy để bạn tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả bán hàng.

www.semvietnam.com

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Quảng cáo trong thời kỳ khủng hoảng – đầu tư hay không?


Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, các doanh nghiệp đang khá lo lắng khi khách hàng tỏ ra chẳng mấy mặn mà với những chiến dịch quảng cáo rầm rộ được đầu tư kỹ lưỡng. Trong khi đó, một số doanh nghiệp khác lại đang rục rịch thu nhỏ quy mô các kế hoạch quảng cáo. Vậy đâu sẽ là bước đi đúng hướng?

Trong thời điểm như vậy tăng cường các cuộc nói chuyện với khách hàng là việc làm thích hợp để biết được xem sản phẩm của doanh nghiệp bạn có thực sự làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng hay không. Và quảng cáo vẫn sẽ là một cầu nối hữu hiệu giữa khách hàng và công ty.

Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, việc đầu tiên họ hay làm là cắt giảm ngân sách quảng cáo nhưng họ không ý thức được rằng lợi bất cập hại, quyết định đó có thể  làm cho tình hình doanh nghiệp càng trở nên tồi tệ hơn.

Theo Andrew Razeghi, giáo sư chuyên ngành marketing của đại học Northwestern’s Kellogg thì thời điểm thích hợp nhất để tăng cường quảng cáo duy trì mối liên hệ với khách hàng chính là trong các cuộc khủng hoảng kinh tế.

Dựa trên số liệu báo cáo nghiên cứu năm  2001 của Cahners Avertising thì sau vụ 11/9, chỉ có 25% doanh nghiệp tăng cường ngân sách quảng cáo và cũng chỉ có cổ phiếu của 25% doanh nghiệp đó tăng nhanh gấp hai lần so với cổ phiếu ban đầu của họ trong nền kinh tế ổn định.

Trung tâm nghiên cứu MarketSense cũng đưa ra một ví dụ điển hình là hãng Pizza Hut và Taco Bell có doanh thu bán hàng tăng mạnh 61% và 40% trong suốt cuộc khủng hoảng 1989-1991 sau khi quyết định vẫn rót tiền đầu tư quảng cáo. Trong khi đó, một số doanh nghiệp khác, với quyết định ngược lại không được may mắn như vậy. Chẳng  hạn như khi McDonald cắt giảm kinh phí quảng cáo thì doanh số bán hàng cũng giảm theo luôn 28%.

Tất nhiên việc đầu tư tiền quảng cáo trong tình hình nền kinh tế thế giới ảm đạm như lúc này là điều không hề dễ dàng. Các nhà tiếp thị vừa phải biết tiêu tiền một cách thông minh vừa phải truyền tải được thông điệp của doanh nghiệp để làm thay đổi  thái độ e ngại của khách hàng. “Một thương hiệu càng làm cho khách hàng cảm thấy hài lòng và gần gũi thì thương hiệu đó càng có chỗ đứng trên thị trường dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào”, John Quelch- giáo sư đại học kinh doanh  Harvard nói. Ông cũng đưa ra một ví dụ về cách truyền tải thông điệp linh hoạt của một công ty kinh doanh thẻ tín dụng sao cho phù hợp nhất với tình hình hiện tại. Thay vì dùng khẩu hiệu cũ trong mùa giáng sinh là “dùng thẻ chia sẻ nhiều quà” sẽ đổi thành “dùng thẻ tiết kiệm nhiều tiền” để phù hợp với tâm lý chi tiêu của khách hàng.

Những cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho chúng ta hoang mang ư? Cách giải quyết tình thế vẫn chỉ gói trọn trong một chữ “nhẫn”. Hãy kiên nhẫn để nhận biết quyết định nào đúng, quyết định nào sai, đâu là cái lợi đâu là cái hại. Đôi khi sự cẩn trọng và đề phòng một cách quá mức trong thời kỳ kinh tế khó khăn lại có thể phản tác dụng, làm doanh nghiệp mất đi những khoản lợi lớn đáng tiếc.

Tuy đây không phải là thời điểm phải quá tập trung cho những chiến dịch quảng bá thương hiệu nhưng quảng cáo là một điều không thể thiếu và rất cần được thực hiện qua những ý tưởng sáng tạo, tiết kiệm và thông minh.

(www.semvietnam.com – Theo nguoilanhdao/Bnet)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

2009, Marketer B2B sẽ làm gì?

Mặc cho khủng hoảng đang tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế toàn cầu, dường như các marketer B2B vẫn muốn tăng chi tiêu trong năm 2009? Đầu tháng 12.2008, tạp chí B2B Online của Mỹ đã công bố một bản báo cáo “Những ưu tiên và kế hoạch trong năm 2009”, trong đó có kết quả thăm dò ý kiến trực tuyến quan điểm của 211 chuyên gia quản trị marketing B2B.

Một điều đáng ngạc nhiên là trong số những người được hỏi có 31,1% cho biết đã lên kế hoạch tăng chi tiêu marketing trong năm tới và 43,5% sẽ duy trì mức chi tiêu marketing hiện tại. Bên cạnh đó, 59,2% marketer cho biết đã không cắt giảm chi tiêu marketing trong năm 2008 dù nền kinh tế đang ở trong tình trạng suy thoái, khủng hoảng.

Xem chi tiết

10 Website mua bán trực tuyến hàng đầu tại Việt Nam

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

SEM Vietnam giới thiệu Top 10 website được đánh giá là sôi động nhất trong thị trường mua bán trực tuyến tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại.

1. http://www.vatgia.com

Vatgia.com

Trang web mua sắm của Công ty cổ phần Vật giá Việt Nam. Với thông tin mới nhất luôn được cập nhập từ những nhà sản xuất cùng nhiều bài viết của các chuyên gia tư vấn sẽ giúp cho người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm hiệu quả, Theo đó khi truy cập siêu thị online www.vatgia.com, khách hàng dễ dàng tìm kiếm thôgn tin với hàng nghìn gian hàng, hàng trăm nghìn sản phẩm về điện tử, công nghiệp, ô tô – xe máy, xây dựng – nhà đất… các dịch vụ và giải trí. Mọi thông tin được trình bày một cách khoa học, kết hợp với nhiều công cụ tìm kiếm cực mạnh, dễ dàng cho người tiêu dùng có thể tìm được sản phẩm như mong muốn, rẻ, chính xác và trong thời gian ngắn nhất. Bên cạnh đó, trang web mua sắm này còn cung cấp cho người tiêu dùng công cụ bình chọn đánh giá chất lượng dịch vụ của người bán, không gian để nhiều người đóng góp ý kiến, trao đổi thông tin về sản phẩm để tìm được những sản phẩm dịch vụ có giá cả và chất lượng tốt nhất.

Xem chi tiết