Các hình mẫu kinh doanh của bán lẻ

Như chúng ta đã biết, các giao dịch trong thương mại điện tử (TMĐT) chủ yếu có hai loại: doanh nghiệp – doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp – người tiêu dùng (B2C).

Trước đây, TMĐT chủ yếu chỉ được thực hiện giữa các doanh nghiệp. Song càng ngày loại hình B2C, nói một cách khác là bán lẻ trong TMĐT, càng được phát triển rộng rãi.

Bài viết này sẽ xác định những yếu tố định hướng các hình mẫu kinh doanh trong tiếp thị điện tử B2C. Khi chưa xác đinh được những khái niệm chung, chúng ta có thể lấy những trường hợp cụ thể, điển hình để tìm hiểu.

Chúng ta đang tìm hiểu những vấn đề cơ bản liên quan đến tiếp thị điện tử cho người tiêu dùng. Chúng ta sẽ bắt đầu thảo luận với sự xem xét một cấutrúc cạnh tranh về bán lẻ trực tuyến trong kinh doanh sách.

Để thiết lập một hình mẫu kinh doanh của tiếp thị điện tử hướng tới người tiêu dùng, chúng ta phải xác định những yếu tố quan trọng tạo nên các hình mẫu TMĐT (e-business). Những yếu tố và hình mẫu kinh doanh này cũng có thể được áp dụng cho TMĐT B2B.

Tiếp thị trực tiếp đối ngược tiếp thị gián tiếp

Tiếp thị trực tiếp có nghĩa là các nhà sản xuất quảng cáo và phân phối các sản phẩm của chính họ đến khách hàng thông qua cửa hàng điện tử dựa trên Internet (hay các phương tiện tiếp thị từ xa khác) mà không cần sự can thiệp của bất kỳ người trung gian nào. Công ty máy tính Dell thuộc loại này. Trái lại, tiếp thị gián tiếp có nghĩa là sản phẩm được phân phối qua những người trung gian thứ ba, như là các khu mua bán điện tử (e-mail).

Các nhà sản xuất có thể bán các sản phẩm của họ trên Internet nếu các cửa hàng điện tử của họ có tính “dễ mục kích” cao. Tuy nhiên, khả năng “mục kích” trực tiếp Công ty và nhãn hiệu quả thấp hay việc quản lý một máy chủ độc lập không được chứng minh là hợp lý về mặt kinh tế, đây có thể là trường hợp của các Công ty nhỏ, hàng hóa có thể được trưng bầy tết hơn ở những email bên thứ ba nổi tiếng.

Tiếp thị ảo hoàn hoàn đối ngược tiếp thị ảo một phần

Tiếp thị ảo hoàn toàn (hay tiếp thị ảo thuần túy) có nghĩa là các Công ty như Amazon bán các sản phẩm và dịch vụ của họ chỉ thông qua Internet, trong khi tiếp thị ảo một phần có nghĩa là các Công ty như Bames & Noble bán hàng không chỉ qua Internet mà còn qua các cửa hàng thực truyền thống.

Các Công ty tiếp thị ảo hoàn toàn là những Công ty mới, khởi phát trong kỷ nguyên TMĐT, trong khi tiếp thị ảo một phần là một sự hồi đáp của các Công ty đã hiện hữu, các Công ty đã tiến hành kinh doanh qua các kênh phân phối khác.

Nhà phân phối điện tử (eleectronic distnbutor) đối ngược người trung gian điện tử (electronic broker)

Trong số những người trung gian điện tử, chúng ta hãy phân biệt những nhà phân phối điện tử với những người trung gian điện tử tùy theo một người trung gian điện tử có chịu trách nhiệm hoàn tất và bảo đảm đơn hàng hay không. Những người trung gian điện tử chỉ giới thiệu các nhà cung cấp, những người kinh doanh các mặt hàng mà khách hàng đang tìm kiếm.

Các cửa hàng điện tử như Dell, Amazon and Wal-mart online thuộc loại các nhà phân phối điện tử, trong khi Internet Mall (www.internet.mall), Bestbook-buys.com và Compare.net thuộc loại các nhà trung gian điện tử.

Các site thư mục như Yahoo và Excite cũng có thể được nhìn nhận như là đóng vai trò người trung gian điện tử. Tiền thanh toán có thể do người trung gian cũng như nhà cung cấp thu nhận tùy theo Hợp đồng giữa người trung gian và nhà cung cấp.

Các cửa hàng điện tử đối ngược với khu mua bán điện tử

Xác định sự khác nhau giữa một cửa hàng điện tử (e-store) và một khu mua bán điện tử (email) là điều không dễ dàng. Trong thế giới vật lý (thực), một khu mua bán là một tập hợp các cửa hàng và các cửa hàng trong khu mua bán là những nhà phân phối độc lập.

Với cách hiểu này, vai trò của các người trung gian thư mục điện tử cùng với các cửa hàng điện tử được tập hợp lại thích hợp với vai trò của các khu mua bán điện tử. Tuy nhiên, nhiều cửa hàng bách hóa trực tuyến gọi các site của họ là các khu mua bán điện tử thay vì các cửa hàng điện tử. Thuật ngữ khu mua bán điện tử đôi khi được sử dụng như một thuật ngữ phổ biến rộng rãi chỉ các shop và cửa hàng điện tử cũng như là một khu mua bán.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải chấp nhận một định nghĩa mặc định để làm rõ khái niệm. Ở đây, chúng ta sẽ thừa nhận nhiều cửa hàng độc lập như là tiêu chuẩn giả định để phân biệt các khu mua bán điện tử với các cửa hàng điện tử.

Do đó, chúng ta có thể định nghĩa một cửa hàng điện tử (electronic store) như là một nhà phân phối điện tử mà việc kinh doanh hàng hóa của họ được thực hiện bởi một sự quản lý đơn nhất. Một khu mua bán điện tử là một nhà phân phối điện tử hay người trung gian điện tử mà việc kinh doanh hàng hóa của họ được nhiều hơn một cửa hàng điện tử thực hiện.

Các khu mua bán điện tử/cửa hàng điện tử (emalls/stores) tổng hợp đối ngược với các khu mua bán điện tử/cửa hàng điện tử chuyên biệt

Các emalls/stores tổng hợp kinh doanh các loại hàng hóa khác nhau, do đó danh mục các hàng hóa cung cấp rất lớn. Các cửa hàng bách hóa trực tuyến thuộc loại này. Trái lại, các emalls/stores chuyên biệt chỉ tập trung vào chỉ một loại hình hàng hóa đặc biệt. Các cửa hàng sách ảo như Amazon thuộc loại emall chuyên biệt và Dell, Công ty tập trung vào chính những sản phẩm máy tính của mình, thuộc loại e-store chuyên biệt.

Loại hình chiến lược hành động trước đối ngược với chiến lược phản hồi hướng tới tiếp thị ảo

Loại hình chiến lược hành động trước hướng tới tiếp thị ảo có nghĩa là kênh phân phối chủ yếu của một Công ty là Intemet và việc quản lý nội bộ như quản lý kho và quản lý hoạt động được tập trung vào việc lợi dụng những lợi ích của tiếp thị ảo.

Trái lại, một chiến lược phản hồi ở tư thế hướng tới tiếp thị ảo có nghĩa là kênh phân phối thực truyền thống tiếp tục là kênh chủ yếu của nó, mặc dù Công ty mở một kênh phân phối trực tuyến. Do đó, kiểu cách quản lý nội bộ truyền thống vẫn giữ không thay đổi.

Ví dụ, Dell thực hiện một loại hình chiến lược hành động trước trong khi sử dụng kênh tiếp thị ảo, liên hệ trực tiếp với khách hàng và làm cho hệ thống sản xuất trở nên linh hoạt đối với việc tuỳe biến rộng rãi.

Tuy nhiên, một số nhà sản xuất máy tính cá nhân khác chỉ chuyển sang tiếp thị ảo một cách phản ứng như là một kênh phân phối bổ sung mà không thay đổi phương thức phân phối và sản xuất truyền thống.

Nhiều Công ty tiếp thị ảo thuần túy mới thành lập theo kiểu loại hình chiến lược phản hổi. Hai vấn đề cơ bản mà một Công ty sẽ phải đối mặt là loại hình chiến lược nào có tính cạnh tranh hơn trong quá trình hoạt động lâu dài và một Công ty sẽ chuyển đổi như thế nào về một loại hình chiến lược hiệu quả hơn với một điều kiện ban đầu có sẵn.

Tiếp thị toàn cầu đối ngược tiếp thị khu vực

Mặc dù Internet được kết nối trên toàn thế giới, một số sản phẩm và dịch vụ không thể cung cấp tòan cầu. Ví dụ, những hàng hóa dễ hỏng hóc như tạp phẩm không thể giao hàng khoảng cách xa. Peapod (www.peapod.com) một dịch vụ cung cấp hàng tạp phẩm có trụ sở ở Evanston, Illinois thuộc loại này.

Chi phí giao hàng có thể giới hạn phạm vi dịch vụ là một vùng nào đó, các đường biên giới chính thức giới hạn dịch vụ như trong trường hợp của Ngân hàng và bảo hiểm, ngôn ngữ cũng có thể giới hạn phạm vi kinh doanh. Do đó, việc quản lý phải quyết định phạm vi địa lý của hoạt động kinh doanh, khi xem xét yếu tố này.

Dịch vụ bán hàng đối ngược dịch vụ khách hàng

Các Website của một số Công ty được sử dụng chủ yếu là hay chỉ là cho dịch vụ khách hàng. Tất cả các Công ty phần cứng và phần mềm máy tính lớn đều cung cấp các site dịch vụ khách hàng, các site này nghiên cứu được mức độ hài lòng của khách hàng trong khi giảm được chi phí duy tri nhân viên ở trung tâm gọi.

Ví dụ như Intel từ năm 1998 đã sử dụng site của mình trước hết là dịch vụ khách hàng. Một số Công ty sử dụng 2 site: một cho việc bán hàng và một cho dịch vụ.

Lập kế hoạch chuyển biến tình trạng hiện thời thành hình mẫu kinh doanh đã hướng tới là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý. Xét theo các khía cạnh của TMĐT, họ có thể phân tích mô hình kinh doanh hiện tại của một Công ty và thiết lập một mô hình kinh doanh thích hợp cho tương lai.

( SEMvietnam – Theo BCVT & CNTT )

Phát triển nhân tài trong doanh nghiệp nhỏ thời khủng hoảng

Bất lực nhìn nhân tài lần lượt “rũ áo ra đi”, đó là tình cảnh chung của những người làm nhân sự trong các doanh nghiệp nhỏ trước sự lôi kéo hấp dẫn của các “đại gia”.

Nhưng không phải không có giải pháp để “giữ trái tim trung thành” của các nhân tài trong thời kỳ khủng hoảng. Chính sách phát triển, bổi dưỡng và huấn luyện nhân tài của doanh nghiệp là phương thức cần được chú tâm vào thời điểm này.

Xác định tầm nhìn nhân sự: Với những nhân viên có tài năng, không ai mong muốn gắn bó với một doanh nghiệp không có tầm nhìn dài hạn. Để giữ nhân tài, trước hết doanh nghiệp cần xác định rất rõ cái đích mình muốn đến là gì? Cần thuyết phục nhân viên của mình bằng một viễn cảnh tươi sáng và đầy thách thức. Bên cạnh đó, những người làm nhân sự cũng cần cùng nhân viên của mình vạch rõ một lộ trình phát triển cho mỗi người. Hãy thuyết phục và tạo niềm tin cho nhân viên của bạn bằng một kế hoạch thăng tiến, kế nghiệm hấp dẫn. Hãy chỉ ra cho những nhân tài của bạn, họ sẽ ở đâu nếu tiếp tục gắn bó với tương lai huy hoàng cùng tổ chức.

Xây dựng chính sách nhân sự hoàn thiện: Một trong những thiếu sót của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là không có một chính sách và một kế hoạch phát triển nhân sự dài hạn và chuyên nghiệp. Để giữ chân nhân tài, doanh nghiệp cần có chính sách đãi ngộ và phát triển nhân sự thích hợp. Hãy đa dạng hóa hình thức khen thưởng thay vì “tiền bạc” chạy đua với các “đại gia”.

Với bất cứ một nhân viên nào nhất là những nhân viên giỏi, nhu cầu được đánh giá công bằng và được công nhận về những đóng góp với doanh nghiệp phải được đặt nên hàng đầu. Nếu bạn là người làm công tác nhân sự, bạn cần hoàn thiện chu trình đánh giá nhân viên, bạn hãy tham khảo các mẫu đánh giá được được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp có tiếng và biến đổi cho phù hợp với thực tế tổ chức. Bạn cần đảm bảo quy trình đánh giá đó tập trung vào kết quả công việc, quá trình thực hiện chứ không phải đánh giá về mặt cá nhân. Bên cạnh đó, bạn cũng cần đảm bảo tính đa chiều trong đánh giá bao gồm những phản hồi tích cực và cần tốt hơn. Phương pháp đánh giá 360 độ là sự lựa chọn của bạn trong mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cùng với công tác đánh giá, chính sách nhân sự của bạn cũng cần tập trung vào việc xây dựng lộ trình phát triển, kế hoạch kế nhiệm cho nhân viên. Hãy thảo luận với nhân viên của bạn để thiết lập một mục tiêu phù hợp với khả năng, mong muốn của bản thân nhân viên và mục tiêu phát triển nhân sự của tổ chức.

Đầu tư ngân sách cho đào tạo: Nguồn tài chính có hạn cùng tâm lý coi đào tạo là một khoản chi phí của nhiều doanh nghiệp nhỏ cũng là nguyên nhân quan trọng khiến doanh nghiệp khó giữ được những nhân viên có khả năng. Và một sai lầm với nhiều người làm nhân sự là cắt giảm kinh phí đào tạo trong thời điểm khủng hoảng. Thực tế, chỉ có tăng cường đầu tư nâng cao năng lực nhân viên mới là giải pháp tối ưu giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Dù bạn là doanh nghiệp nhỏ, lời khuyên cho bạn hàng năm hãy dành một khoản đầu tư nhất định cho đào tạo. Tùy vào tình hình doanh nghiệp, người làm nhân sự cần đề xuất một khoản kinh phí từ 2 – 5% lợi nhuận của tổ chức.

Huấn luyện và kèm cặp nhân tài: Nhân tài cần có một chế độ kèm cặp và huấn luyện đặc biệt. Bạn cần truyền tải tư tưởng này đến toàn bộ các cấp quản lý trong doanh nghiệp. Hãy xây dựng một môi trường, trong đó những người có khả năng được quyền thể hiện và vận dụng sự sáng tạo của chính mình. Với mỗi nhân viên có khả năng trong tổ chức, bạn nên chỉ định những người kèm cặp riêng cho họ. Bạn có thể vận dụng phương pháp “Sư phụ – Đệ tử” trong những tình huống huấn luyện như thế này. Hãy để cho những nhân viên tài năng của bạn được gọt dũa và trở thành “những viên ngọc sáng”.

Bên cạnh đào tạo nội bộ, bạn cũng nên tạo điều kiện cho nhân viên của mình được đi đào tạo bên ngoài để nâng cao năng lực. Hãy biến cơ hội đào tạo trở thành một phần thưởng được biệt dành cho những nhân viên có khả năng.

Giao quyền và tạo thử thách mới: Dù công việc có hấp dẫn đến đâu cũng khó giữ được nhân viên của bạn trung thành với một vị trí. Là một người làm công tác nhân sự, bạn hãy mạnh dạn chuyển đổi vị trí công tác cho những nhân viên có khả năng. Trong khoảng thời gian 6 tháng đến 1 năm, bạn cần chuyển đổi vị trí cho những nhân viên nằm trong tầm ngắm phát triển của bạn. Hãy để họ được trải nghiệm và tìm ra những vị trí mà nhân viên của bạn thực sự có khả năng.

Nhân sự giỏi bao giờ cũng mang trong mình khát vọng thể hiện. Bạn cũng mạnh dạn giao quyền có sự kèm cặp cho nhân viên của mình. Hãy để họ được làm những công việc vượt quá khả năng của họ 20%. Chính những thách thức trong công việc mới trở thành động lực thúc đẩy nhân viên của bạn trung thành với tổ chức và hoàn thiện bản thân mình.

Xây dựng văn hóa gia đình: Lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ là quy mô nhân sự nhỏ, các thành viên có thể biết về nhau. Để giữ nhân viên, bạn hãy chú trọng xây dựng công ty thành một gia đình có tổ chức với kỷ luật cao. Hãy đa dạng hóa các hoạt động gắn kết để giữ thành viên. Chính tình cảm giữa cấp quản lý với nhân viên và các hoạt động tập thể là lực kéo giúp nhân viên của bạn tiếp tục gắn bó cùng doanh nghiệp.

Sử dụng dịch vụ tư vấn nhân sự:
Hiện nay trên thị trường có khả nhiều các công ty chuyên về lĩnh vực tư vấn và giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự. Thay vì tự mình làm tất cả, hãy dành ra một khoản chi phí để sử dụng các dịch vụ tư vấn nhân sự từ bên ngoài. Bạn hãy lưu ý lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp và có uy tín trên thị trường.

Một sự kết hợp các giải pháp từ bên trong và bên ngoài sẻ giúp bạn có một chiến lược tổng thể phát triển và nuôi dưỡng nhân tài trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thời khủng hoảng. Tập trung vào đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển nhân tài là con đường khôn ngoan giúp doanh nghiệp nhỏ vượt qua khủng hoảng.

(Theo Vietnamlearning)

Những “thủ phạm” của suy thoái kinh tế

Trong số 25 cái tên được điểm, có cả những nhân vật như 2 vị cựu tổng thống của Mỹ là Bill Clinton, George Bush và CEO các tập đoàn tài chính có ảnh hưởng nhất nước Mỹ.

Khi suy thoái tài chính thế giới dường như đã chạm đến đáy, người ta có thời gian kiểm nghiệm lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến thảm họa kinh tế lớn nhất kể từ những năm 1930. Báo cáo về 25 nhân vật có “công” lớn nhất đối với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay vừa được tạp chí Time công bố.

1. Angelo Mozilo

thupham-1

Là con trai của một người bán thịt, Mozilo trở thành đồng sáng lập Công ty Countrywide vào 1969 và nhanh chóng biến nó trở thành nhà cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ. Trong “phong trào” cho vay thế chấp dưới chuẩn, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ. Sau khi bong bóng bất động sản tan vỡ, những món nợ khó đòi khiến Countrywide là một trong những công ty thua lỗ và sa thải nhân công sớm nhất. Mozilo bị dư luận và Quốc hội Mỹ chỉ trích mạnh mẽ khi vẫn điềm nhiên nhận khoản tiền thưởng hậu hĩnh khi kinh doanh thất bát. Đầu 2008, Mozilo ra đi sau khi bán Countrywide cho Bank of America lấy 4 tỷ USD.

2. Phil Gramm

thupham-2

Phil Gramm ngồi ghế Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ cho đến năm 2000. Năm 1999, Thượng nghị sĩ Phil Gramm hô hào bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall Act lập từ sau Cơn Đại Suy thoái 1930. Đạo luật này tách bạch vai trò của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, xuất phát từ quan điểm ngăn ngừa các ngân hàng đem tiền gửi của người dân “nướng” vào các canh bạc chứng khoán. Tuy nhiên, nhờ “công lao” của Phil Gramm, nó đã bị bãi bỏ và thay bằng Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai áp dụng từ năm 2000. Sản phẩm của Phil Gramm hủy bỏ sự kiểm soát của Ủy ban Giao dịch Tương lai Mỹ đối với các giao dịch phái sinh OTC như hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Phil Gramm nhanh chóng được các ngân hàng đầu tư tung hô. Tuy nhiên chỉ 8 năm sau, chính hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã hạ gục nhiều nạn nhân, trong số có nhà bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Tuy nhiên, hồi tháng 1/2009, ông Phil Gramm đã lên tiếng phản đối vai trò của ông trong suy thoái.

3. Alan Greenspan

thupham-3

Cựu Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan là một chuyên gia kinh tế dày dạn kinh nghiệm trên thương trường và là học trò cưng của nhà lý luận nổi tiếng người Mỹ Ayn Rand. Sau khi chèo chống vượt qua thời kỳ chứng khoán đen tối năm 1987 và đạt thành công vang dội suốt những năm 1990, ông được toàn nước Mỹ phong tặng danh hiệu Thầy phù thủy. Tuy nhiên, nguy cơ dần nảy nở từ đầu năm 2000, khi Greenspan áp dụng mức lãi suất siêu thấp và bãi bỏ sự kiểm soát đối với các định chế tài chính lớn. Hồi tháng 10 năm ngoái, ông phải cay đắng thừa nhận trước Quốc hội Mỹ rằng mình đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi ngộ nhận các hãng tài chính có thể tự kiểm soát hoạt động của họ.

4. Chris Cox

thupham-4

Cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) Chris Cox có thể viện cớ quanh co để phủ nhận vai trò của ông trong vụ lừa đảo lịch sử Bernard Madoff. Tuy nhiên, giới đầu tư không chấp nhận bất cứ bào chữa nào về sự tắc trách khi ông còn đương chức. Cox biện hộ rằng SEC không đủ quyền hành để hạn chế sự lạm dụng đòn bẩy tài chính, vốn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Tuy nhiên, sự thật là Ủy ban Chứng khoán Mỹ hoàn toàn có khả năng nắm thông tin hoạt động của những ngân hàng lớn như Lehman Brothers và Merrill Lynch.

5. Người tiêu dùng Mỹ

thupham-5

Chính người tiêu dùng Mỹ cũng bị liệt vào hàng “thủ phạm” trong suy thoái toàn cầu. Người Mỹ bắt đầu chính sách thắt lưng buộc bụng từ quý III/2008 do lo sợ kinh tế sẽ yếu đi. Trong khi suốt 40 năm trước đó, thị trường Mỹ đã quen với phong cách thoải mái chi tiêu của người dân. Họ vay mượn để mua sắm, vay mượn để tiêu dùng và đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có của nước Mỹ. Tuy nhiên, vào thời điểm bong bóng chứng khoán và bất động sản tan vỡ cuối năm 2007, nợ tiêu dùng của người dân đã lên đến 130% so với mức thu nhập trung bình. Hàng triệu người Mỹ vỡ nợ và nhận ra họ đã không giàu có như đã tưởng.

6. Hank Paulson

thupham-6

Khi Hank Paulson rời ghế Chủ tịch Goldman Sachs để trở thành Bộ trưởng Tài chính Mỹ năm 2006, mối bận tâm lớn nhất của ông là làm thế nào để gây ảnh hưởng càng lớn càng tốt. Cuối cùng ông đã thành công, tuy nhiên đó không phải là ảnh hưởng tích cực. Vào cuối thời tổng thống Bush – con, ông đã một tay thao túng toàn bộ nền kinh tế Mỹ bằng các chính sách kinh tế. Kết quả của chúng là 3 sai lầm đã được các nhà phân tích đúc kết lại. Sai lầm đầu tiên là ông đã chậm chân trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Sai lầm nghiêm trọng tiếp theo của Hank Paulson là để Ngân hàng Lerman Brothers sụp đổ. Cuối cùng, người ta gọi gói cứu trợ tài chính trị giá 750 tỷ USD của vị cựu Bộ trưởng Tài chính chỉ là một đống hỗn độn tốn kém.

7. Joe Cassano

thupham-7

Trước khi ngành tài chính Mỹ đóng băng, ít người biết đến khái niệm hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS). Đó là một loại hợp đồng bảo hiểm, trong đó một bên trả cho bên kia khoản phí để đổi lại được nhận bồi thường trong trường hợp vỡ nợ trái phiếu. Một trong số những người hiểu rất rõ bản chất của công cụ này là Joe Cassano, thành viên sáng lập bộ phận đầu tư tài chính của tập đoàn bảo hiểm AIGTrong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ. Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín dụng vùn vụt tăng cao. Cho đến nay, chính phủ Mỹ đã phải chi đến hơn 150 tỷ USD để duy trì sự sống cho AIG với quyết tâm không thể để tập đoàn này sụp đổ

8. Ian McCarthy

thupham-8

Ian McCarthy được xem là thủ phạm lớn trong vụ sụp đổ thị trường nhà đất ở Mỹ. Là CEO của Công ty Bất động sản Beazer Homes, ông đã cho xây quá nhiều nhà, vượt ngoài khả năng tiêu hóa của người Mỹ. Để tiêu thụ hết số nhà đó, Ian McCarthy đã dùng đến vài mánh khóe. Một trong số đó là chiêu dối trá về khả năng trả nợ của khách hàng, khiến nhà băng sẵn sàng cho họ vay tiền mua bất động sản. Vụ việc của Ian McCarthy đang được FBI, Cơ quan phát triển Nhà của Mỹ và Cơ quan thuế IRS phối hợp điều tra.

9. Frank Raines

thupham-9

Người khai sinh ra Ngân hàng Fannie vào năm 1938 là Quốc hội Mỹ và người đưa thành công đến với ngân hàng này là cựu Chủ tịch Jim Johnson. Còn thủ phạm chính khiến Fannie trở thành mối họa với kinh tế Mỹ là người kế nhiệm Jim Johnson, CEO Frank Raines. Frank Raines từng đứng trong bộ máy ngân khố thời Bill Blinton, và ông là CEO gốc Phi đầu tiên nằm trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. Sau khi rời Ngân hàng vào 2004 sau một scandal, ông để lại sau lưng một mối họa tiềm ẩn với nền kinh tế Mỹ. Năm 2008, thua lỗ của Fannie cùng bạn đồng hành Freddie Mac đã lên đến 100 tỷ USD mỗi năm và bị buộc phải nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Mỹ.

10. Kathleen Corbet

thupham-10

Corbet là người điều hành tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn nhất và uy tín nhất nước Mỹ là Standard & Poor’s suốt một thập kỷ. Lợi dụng uy tín của mình, Kathleen Corbet đã dán nhãn “chất lượng cao” lên những khoản vay rủi ro nhất, khuyến khích nhà đầu tư lao đầu vào mua các giấy nợ đảm bảo bằng tài sản. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, những tờ giấy nợ này biến thành giấy loại không hơn không kém. Tiền là lý do duy nhất khiến bà làm ăn thiếu trách nhiệm. Một số nhà phát hành chứng khoán trả tiền cho Kathleen Corbet để cổ phiếu yếu kém của họ được chính S&P đảm bảo.

11. Dick Fuld

thupham-11

Từng nổi tiếng với biệt danh Gorilla của Phố Wall, CEO Dick Fuld là người có công đầu trong việc nhấn chìm Ngân hàng Lehman Brothers trong những phi vụ kinh doanh thế chấp dưới chuẩn. Lehman rót vốn cho các ngân hàng. Sau đó, đến lượt những ngân hàng này cung cấp khoản vay cho những người không có khả năng trả nợ. Lehman biến tiền thành trái phiếu và chuyển cho nhà đầu tư hàng tỷ USD nợ xấu. Trước khi Lehman phá sản, Dick Fuld nhanh tay tự thưởng cho mình 500 triệu USD.

12. Bill Clinton

thupham-12

Nước Mỹ ở trong thời kỳ kinh tế thịnh vượng những năm Tổng thống Bill Clinton “trị vì”. Tuy nhiên, ông là người có công bãi bỏ và lập ra nhiều đạo luật, vốn làm nền móng cho những rắc rối gần đây. Năm 1999, ông quyết định bỏ luật Glass-Steagall Act, bài học sau thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930. Một năm sau đó, ông ký duyệt Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai. Hành động này đã cởi trói cho Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Năm 1995, Clinton nới lỏng quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng. Điều luật gia tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà. Các nhà phân tích vẫn đang không ngớt tranh cãi về vai trò của vị cựu tổng thống trong việc tạo ra một môi trường cho vay đầy rủi ro.

(Còn tiếp)

10 giải pháp cho doanh nghiệp thời khủng hoảng

Microsoft Việt Nam vừa công bố gói 10 giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí IT tối đa trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay.

giaiphapĐây là các giải pháp được Microsoft đưa ra rải rác trong thời gian qua, bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp, giúp giảm sức người, sức của trong khi vẫn mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.

* Truyền thông hợp nhất (Unified Communication): Theo Microsoft thì giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu cước viễn thông, thời gian và chi phí đi lại, chi phí in ấn tài liệu khi cho phép người sử dụng máy tính chia sẻ thông tin, hội đàm trực tuyến qua web. Nói một cách ngắn gọn, truyền thông hợp nhất giúp kết nối mọi người thông qua nhiều thiết bị khác nhau như điện thoại di động, máy tính web, hội thảo trực tuyến, tin nhắn tức thời thay vì phải gặp mặt trực tiếp.

* Công nghệ ảo hóa (Virtualization): Giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đầu tư hạ tầng phần cứng, giảm tiêu hao năng lượng, giúp triển khai công tác quản trị mạng và bảo mật hệ thống dễ dàng và an toàn hơn. Ảo hóa có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí hạ tầng công nghệ thông tin thông qua khả năng hợp nhất máy chủ, khôi phục sau các sự cố, tái lưu trữ các ứng dụng riêng, thử nghiệm và triển khai phần mềm.

* Doanh nghiệp thông minh (Business Intelligence – BI): Giải pháp này sẽ hỗ trợ lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính xác nhờ các công cụ khai thác thông tin doanh nghiệp thông minh. BI cũng được xem là giải pháp giảm thiểu thời gian thu thập, sắp xếp, tổ chức và tìm kiếm thông tin, giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả công việc. Theo Microsoft, BI là một nền tảng hợp nhất các thông tin có sẵn liên quan tới hoạt động kinh doanh và những ảnh hưởng cũng như sự hiểu biết được rút ra từ nó. Điều này giúp nâng cao tính rõ ràng trong phân tích và báo cáo, giúp đưa ra quyết định tốt hơn và giảm bớt các khoản chi phí đưa sản phẩm tới thị trường.

* Làm việc cộng tác (Collaboration): Trong thời đại ngày nay, việc trao đổi thông tin được coi là nguyên tắc sống còn của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc chia sẻ thông tin dễ dàng, tìm kiếm và xử lý thông tin nhanh chóng sẽ giúp mang lại hiệu quả to lớn cho doanh nghiệp. Giải pháp “Cộng tác” của Microsoft giúp hợp lý hóa các thông lệ trong công việc bằng cách tạo ra các không gian làm việc chia sẻ và cộng tác để tăng sức mạnh cho nhân viên. Các công cụ kết nối mạng xã hội cho phép chia sẻ thông tin một cách uyển chuyển, tiết kiệm chi phí in ấn, băng thông cho email và giảm tổng thời gian của quá trình cộng tác.

* Quản trị nguồn lực doanh nghiệp & quản lý quan hệ khách hàng ERP & CRM:
Với giải pháp này, doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng quản lý khách hàng, tối ưu hóa hoạt động điều hành doanh nghiệp, giúp quá trình vận hành nghiệp vụ trơn tru hơn, cải thiện dịch vụ khách hàng và tăng cường mức độ chắc chắn khi đưa ra quyết định.

* Tối ưu ứng dụng văn phòng (Desktop Optimization):
Giải pháp này sẽ giúp tăng hiệu quả làm việc của nhân viên bằng cách khai thác tối đa tính năng của các ứng dụng văn phòng. Cụ thể đó sẽ là việc tối ưu hóa các tính năng ưu việt của Windows Vista và Office 2007, giúp nhân viên nâng cao hiệu suất công việc hàng ngày, tăng cường bảo mật thông tin và giảm chi phí.

* Nền tảng chăm sóc khách hàng (Customer Care Framework – CCF): Đây là nền tảng chung cho tất cả các bộ phận chia sẻ thông tin chi tiết và tiến trình chăm sóc khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí thời gian cho dịch vụ chăm sóc khách hàng. CCF được thiết kế để nâng cao mức độ trung thành của khách hàng bằng cách đơn giản hóa trải nghiệm của khách hàng, đồng thời tối đa hóa sức mạnh các hệ thống nền sau (back-end) nhờ sử dụng khung đầu-cuối cấp doanh nghiệp để xây dựng và quản lý các ứng dụng tổ hợp. CCF đem lại sức mạnh để tạo ra những ứng dụng tổ hợp trực quan mà giao tiếp với môi trường của trung tâm dữ liệu có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng hơn bất cứ lúc nào.

* Tối ưu hóa hạ tầng (Infrastructure Optimization): Giải pháp này sẽ nâng cao năng lượng cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng quy trình khảo sát nhanh và chính xác, giúp doanh nghiệp dễ dàng xác định được hiện trạng công nghệ để đầu tư hiệu quả thông qua các mô hình quản trị hệ thống hạ tầng tối ưu. Nền tảng này bao gồm 3 mô hình tiếp cận: Cơ sở hạ tầng lõi, Hiệu suất kinh doanh và Nền tảng ứng dụng – cho phép doanh nghiệp đánh giá năng lực CNTT hiện tại của mình và giúp họ đạt được một hệ thống CNTT năng động, do đó giảm bớt chi phí, tăng cường sự nhanh nhạy và cải thiện các cấp độ dịch vụ.

* Dịch vụ lưu trữ (Hosted Services): Với dịch vụ Microsoft Hosted Services, doanh nghiệp có thể sử dụng các ứng dụng của Microsoft với nhiều hình thức đa dạng, chẳng hạn có thể mua phần mềm Microsoft mới nhất mà không phải mua giấy phép.

* Cấp phép (Licensing): Giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm khá nhiều chi phí khi mua phần mềm. Giải pháp cấp phép sẽ đảm bảo doanh nghiệp có thể sử dụng những phần mềm mới nhất mà không phải trả nhiều tiền cho việc này.

(SEmvietnam – Nguồn tin: VnMedia)

7 lỗi chết người của email marketing

Bạn không cần phải là nhà nghiên cứu và phân tích email marketing để biết xem người nhận thích và không thích điều gì. Những kinh nghiệm cá nhân sẽ rất hữu ích cùng với những thông số như tỉ lệ click chuột, conversion, unsubcribe và than phiền về spam.

7_loi_chet_nguoi_cua_email_marketingĐiều gì làm cho bạn chào đón một email hay xoá nó? Hãy sử dụng những hiểu biết này vào chương trình gửi email của bạn.

1. Gửi email người nhận không yêu cầu

Khi người nhận thấy email của bạn, điều cuối cùng bạn muốn là làm cho họ tự hỏi, “ai đây” hay “tại sao tôi lại nhận cái này” hay tệ hơn là “lẽ ra tôi không nên đưa họ địa chỉ email của mình!”

Họ sẽ tức giận hơn khi không biết là bạn đã lấy địa chỉ email của họ từ đâu. Trường hợp này thường xảy ra khi bạn lấy địa chỉ từ danh sách của người khác.

Thậm chí họ cũng không chấp nhận dù trước đó đã cung cấp địa chỉ email cho một bộ phận khác trong công ty bạn. Tại sao? Đơn giản là vì sự cho phép không thể chuyển giao. Nếu bạn không làm rõ ngay từ đầu rằng việc đăng kí nhận một loại thông tin cụ thể cũng có nghĩa là đăng kí nhận những thông tin khác, thì bạn đừng giả đinh rằng họ sẽ nhận bất cứ những gì bạn gửi.

Tránh thế nào: thông báo cho người đăng kí lí do tại sao họ nhận được email và mời họ tham gia đăng kí nhận những thông tin khác. Nếu nội dung của bạn có liên quan và chất lượng tốt, họ sẽ sẵn lòng đăng kí nhận thêm thông tin. Xây dựng danh sách người nhận với những thuộc tính khác nhau dựa trên những quan tâm riêng của từng người và không gộp chung tất cả vào một danh sách. Hơn nữa hãy nói không khi các phòng ban khác muốn sử dụng danh sách này, ngoại trừ đã có sự cho phép.

2. Gửi email có nội dung khác với những điều đã cam kết

Giả sử bạn đã đăng khí nhận bản tin hàng tuần về những xu hướng mới nhất trong ngành. Nhưng trong email nhận được, chỉ có 10% là thông tin bạn cần, còn 90% là thông tin giới thiệu sản phẩm và khuyến mãi. Email sẽ bị bỏ ngay vào hộp spam!

Email của bạn không phải là duy nhất và thời kì khách hàng mong mỏi nhận email của bạn đã trở thành quá khứ.

Tránh thế nào: hãy thành thật với những đề nghị khi họ đăng kí. Nếu email của bạn có nội dung tốt và liên quan tới những gì khách hàng quan tâm, họ sẽ không có cảm giác bị lừa khi nhận email của bạn.

Bạn có thể chuyển hướng nội dung email với những người đăng kí cũ, nhưng hãy thành thật với những gì bạn đang làm và giá trị bạn mang lại cho họ là gì.

3. Gửi email không thể đọc được trên smart phone hay điện thoại di động

Ngày càng có nhiều người check mail trên điện thoại di động, nhưng không phải ai cũng đọc những email có dung lượng lớn và thiết kế bắt mắt trên một chiếc iPhone.

Việc đặt tất cả những thông tin chính như kêu gọi hành động, đăng kí không nhận bản tin hay thông tin liên lạc vào email mà không thể đọc được trên smartphone sẽ chỉ tốn thời gian của người nhận. Họ sẽ xoá email trong tích tắc mà không cần suy nghĩ.

Tránh thế nào: viết những lời chào hàng thật ngắn gọn và xúc tích. Nếu đủ hấp dẫn, người đọc sẽ giữ lại để đọc sau khi truy cập trên máy tính.

4. Gửi email nhiều đường link và hình ảnh bị lỗi

Nó làm cho thông điệp trông giống như spam và trở nên không đáng tin. Những cảm xúc tiêu cực này sẽ ảnh hưởng không tốt đến thương hiệu hay hình ảnh công ty. Những đường link, hình ảnh bị lỗi hay sử dụng sai hình ảnh – chưa nói đến sử dụng sai thông điệp kêu gọi hành động – tất cả điều này để làm lãng phí thời gian của người nhận.

Tránh thế nào: đưa quy trình kiểm tra (gửi thử) vào trong bất kì kế hoạch, chương trình email marketing. Việc bạn kiểm tra kĩ càng nội dung trước khi gửi sẽ giúp tiết kiệm thời gian hơn là tạo thêm một chương trình gửi email xin lỗi.

5. Gây khó khăn trong quá trình từ chối nhận bản tin

Đầu tiên, điều này vi phạm luật chống spam vì bạn không được phép ẩn chức năng từ chối nhận bản tin (unsubcribe) hay buộc người nhận nhập mật mã, tham gia khảo sát hay thực hiện những quy trình phức tạp để đăng kí không nhận tin.

Thứ hai, điều này sẽ tạo phản ứng ngược. Có thể bạn cho rằng đây là cách khôn ngoan để duy trì số lượng email trong danh sách, nhưng nó sẽ chẳng có tác dụng gì đâu.

Người nhận khi không thấy đường link từ chối nhận tin (unsubcribe) hay hiểu hướng dẫn sẽ nhấn ngay vào nút spam hay delete. Và khi email kế tiếp của bạn tới, họ lại tiếp tục hành vi tương tự. Hành vi này càng lập lại càng ảnh hưởng không tốt đến uy tín của bạn và sẽ làm cho quá trình gửi email tới đúng những đối tượng mong đợi nhận sẽ khó khăn hơn.

Tránh thế nào: hầu hết các ESP (nhà cung cấp dịch vụ gửi email) đều có những công cụ giúp người nhận từ chối nhận bản tin (unsubcribe) một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nếu bạn muốn tích hợp dữ liệu, hãy trao đổi với các ESP để có những phương án tích hợp dữ liệu một cách tối ưu.

6. Gửi email chào hàng lại khi người nhận vừa mới mua sản phẩm

Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy khó chịu khi vừa mới mua một món hàng nào đó sau khi nh ận thông tin từ email và ngay email sau họ lại gửi một lời chào hàng về chính sản phẩm bạn vừa mới mua!

Người gửi email chắc chắn không biết bạn là ai và cũng không biết bạn đã chi bao nhiêu cho sản phẩm vừa mua. Có thể họ đã cập nhật nhưng không sử dụng những thông số về khách hàng để tích hợp vào thông điệp email mang tính cá nhân hoá.

Những điều trên sẽ không thể cải thiện các chương trình email marketing.

Tránh thế nào: Một chương trình gửi email mời chào hàng lại là một ý tưởng tuyệt vời để dành lại sự quan tâm của những khách hàng cũ, những người đã dần quên đi những giá trị mà sản phẩm của bạn mang lại. Những chương trình này cũng giúp làm sạch và cập nhật danh sách email khách hàng. Hãy kiểm tra kỹ những thông tin về dữ liệu khách hàng trước khi gửi. Tuy nhiên bạn cần xem xét kĩ và tổng hợp các thông tin khi mỗi lần tiếp xúc với khách hàng để tạo ra một thông điệp mang tính cá nhân hoá cao.

7. Gửi nhiều email hơn mong đợi

Người nhận sẽ lựa chọn số lần nhận email (theo tuần hay tháng) khi đăng kí nhận bản tin. Việc gửi email với số lượng nhiều hơn cam kết sẽ giết chết danh sách của bạn và tạo ra những than phiền về spam và từ chối nhận bản tin.

Tránh thế nào: thiết lập sẵn số lần gửi khi người nhận đăng kí nhận bản tin và hãy tuân thủ theo cam kết. Vào những mùa cao điểm, bạn có thể gia tăng số lần gửi bằng cách tạo ra những danh sách phụ trong một khoảng thời gian giới hạn nhất định và mời những người nhận đăng kí vào danh sách đó.

7. Càng làm hài lòng người nhận thì kết quả sẽ càng tốt hơn

Bạn không cần phải là nhà nghiên cứu và phân tích email marketing để biết xem người nhận thích và không thích điều gì. Những kinh nghiệm cá nhân sẽ rất hữu ích cùng với những thông số như tỉ lệ click chuột, conversion, unsubcribe và than phiền về spam. Điều gì làm cho bạn chào đón một email hay xoá nó? Hãy sử dụng những hiểu biết này vào chương trình gửi email của bạn.

Nếu vẫn còn đau đầu về những vấn đề như tại sao tỉ lệ spam và từ chối nhận tin gia tăng, hãy hỏi họ! Mỗi môt từ chối nhận bản tin có thể giúp bạn hiểu họ muốn gì.

Nội dung email – Linh hồn của Email Marketing

Một Email với nội dung hấp dẫn và hình thức bắt mắt sẽ thiết lập lòng tin và sự nhận dạng thương hiệu cho người đọc.

emailĐối với bất kỳ một chiến dịch email nào doanh nghiệp cũng cần phải tạo một email hoàn hảo cả về nội dung và hình thức để người đọc hiểu được ý nghĩa của thông điệp. Giá trị nội dung đem lại thành công của chiến dịch Email Marketing.

Tại sao nội dung quan trọng?

Điều đầu tiên người đọc sẽ làm khi mở một email đó là hỏi chính bản thân họ. Thông tin trong mail có lợi gì cho họ? Bạn có 7 giây để trả lời câu hỏi này.

Cách trình bày và bố cục đóng một vai trò lớn ở đây. Trong cái nhìn thoáng qua đầu tiên, thương hiệu của bạn cần dễ nhìn, rõ ràng và nội dung dễ đọc. Tuy nhiên chỉ có hình thức thôi thì chưa đủ. Dù một email có đẹp, trình bày tốt như thế nào thì ma thuật để kéo người đọc đọc tiếp qua giây thứ 7 chính lại nằm trong nội dung email.

Nội dung cần liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu yếu tố này thiếu, người đọc sẽ xóa email ngay tức khắc. Nếu điều đó xảy ra thường xuyên, họ có thể thấy đó là phiền nhiễu và tìm cách ngăn chặn email của bạn, tệ hơn họ thông báo rằng bạn là một spammer.

Sự thích hợp của email trả lời câu hỏi “Thông điệp trong email mang lại gì cho tôi”. Hãy chắc chắn rằng người nhận phải quan tâm và đọc, tìm hiểu nó. Để hấp dẫn hơn bạn có thể xúc tiến những hoạt động trong email như chỉ đường dẫn tới website của công ty, các kết nối để họ có thể chuyển newsletter hoặc quảng cáo tới những người bạn và đồng nghiệp của họ.

Bạn có thể cung cấp nội dung gì?


Hiểu đối tượng nhận email

Một trong những bước quan trọng để cung cấp nhiều thông điệp liên quan đó là biết được đối tượng bạn đang định hướng tới. Bạn đang viết cho ai? Có phải bạn đang viết cho một người 70 tuổi đã về hưu, người thích chơi golf hoặc ở nhà? Bạn có thể phân loại khách hàng và điều quan trọng là hướng tới và phân khúc đúng nội dung của bạn dựa trên mối quan tâm của họ.

Để nhận ra được những quan tâm này, bạn cần sử dụng công cụ email marketing để đưa ra chức năng thông báo mà cho phép bạn biết được nhiều hơn về người nhận như tỉ lệ mở email và tỉ lệ click. Bạn cũng có thể phân tích những bản báo cáo về chiến dịch trước đây để hiểu hơn về sự chú ý của họ và thông điệp nào khiến họ hành động.

Tạo tiếng nói cá nhân

Sự am hiểu thương hiệu được thiết lập thông qua tiếng nói và cá tính trong cách truyền đạt thông tin của bạn. Thay vì gửi những email có đặc điểm chung chung, hãy cá nhân hóa chúng để nói rõ bạn là aim gửi đến ai.

Thiết lập tiếng nói cá nhân trong cách truyền đạt thông điệp của bạn không chỉ giúp khách hàng cảm thấy có sự kết nối mà còn nuôi dưỡng mối quan hệ với người đọc.

Một tiếng nói riêng rất quan trọng để có được niềm tin của người đọc với bạn và nội dung email. Họ sẽ quan tâm đến email nhiều hơn và quan tâm đến những gì bạn muốn truyền tải trong đó.

Ngắn gọn và súc tích

Chỉ với 7 giây để tạo sự chú ý của người đọc, bạn không nên lãng phí thời gian vào những câu dài loằng ngoằng hoặc nội dung chẳng có gì liên quan. Hãy chú ý đến trọng tâm.

Bạn cần phải chắc chắn rằng nội dung email phải được lên kế hoạch chiến lược để chuyển tải thông điệp rõ ràng và súc tích. Hãy khiến email dễ dàng cho người đọc để có thể bỏ qua những thông tin họ không quan tâm và lưu lại cái mà họ thực sự quan tâm. Quy tắc ngón tay cái: Càng thường xuyên gửi email thì email của bạn càng phải ngắn gọn.

Thêm link và thay đổi chủ đề

Thêm link cho chiến dịch email hoặc newsletter giúp gắn kết khách hàng và hấp dẫn họ đến website của bạn. Không nên giới bạn chính bạn tới các nút bấm và banner. Bạn có thể thêm các hyperlinks chiến lược vào email. Những link này sẽ kết nối đến nội dung sâu sắc hơn và bạn có thể kiểm tra được tỉ lệ lick vào trang, mức độ hồi âm của khách hàng. Nhờ đó doanh số sẽ tăng nhanh hơn.

Thêm vào đó, sử dụng các chủ đề khác nhau – dù là những thay đổi theo ngày nghỉ hoặc lý do nào đó, để bạn có sự sáng tạo và làm mới email của mình. Lên kế hoạch nội dung quanh chủ đề nhằm giữ người đọc hiểu được điều bạn muốn nói. Hãy chuẩn bị và lên kế hoạch trước, chỉ rõ khi bào bạn gửi email dựa trên các sự kiện trong năm.

Chắc chắn rằng layout và thiết kết phải bổ sung cho nội dung

Bây giờ bạn đã có nội dung liên quan và gắn kết chặt chẽ với nhau thì hãy chắc chắn trông chúng phải thật phong cách. Email của bạn phải trông sáng sủa với khoảng trắng giữa các đoạn, hình ảnh, đồ hoạ và đường kẻ. Nhất quán giữa nội dung và hình thức trong email hoặc newsletter, tạo sự tương phản giữa màu font và màu nền để nội dung dễ dọc và đọc nhanh hơn.

Nhớ rằng, nội dung mà bạn cung cấp là lý do chính để khách hàng đọc email và newsletter của bạn. Hãy chắc chắn nội dung phải có giá trị. Đây là chìa khóa để thực hiện chiến dịch thành công, tăng lượng người đọc và đọc thường xuyên email của bạn.

(SEMvietnam – Theo MarketingProf)

Quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng tác động tới quyết định mua của khách hàng

Giữa lúc kinh tế đang suy thoái thì người tiêu dùng lại tin tưởng và đánh giá cao phương thức quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, khi nó ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định mua hàng của họ.

Đó chính là kết quả theo mới đây của một cuộc nghiên cứu được tiến hành bởi Yankelovich và Cục quảng cáo trên truyền hình, trong buổi thuyết trình tại thành phố New York vào tháng Tư vừa qua. Nghiên cứu này đã khảo sát mức độ ảnh hưởng của quảng cáo lên quyết định mua của một người tiêu dùng, tùy thuộc vào vị trí của người tiêu dùng trong chu kỳ mua của họ. Tính trên mặt bằng chung, các phương tiện truyền thông đại chúng gây tác động lên ít nhất 80% số lượng người tiêu dùng trong giai đoạn nhận thức của chu kỳ mua, và khoảng 53% khi giai đoạn mua diễn ra.

khaosat

Kết quả này lại thay đổi theo từng ngành. Ví dụ như trong lĩnh vực du lịch có đến 87% số khách hàng cho hay đã từng bị ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông trong giai đoạn nhận thức. Trong khi đó ở giai đoạn mua cũng có đến 59% bị tác động. Còn đối với ngành công nghiệp ô tô, trong giai đoạn nhận thức có 81% người tiêu dùng bị ảnh hưởng nhưng tại giai đoạn mua diễn ra tỷ lệ này là 41%.

Trong tác động tạo ra bởi các phương tiện truyền thông đại chúng, thì ảnh hưởng từ truyền hình gây ra đều như nhau ở tất cả các ngành nghề và lĩnh vực khi ở giai đoạn nhận thức có khoảng 54% người tiêu dùng thừa nhận bị ảnh hưởng còn tại giai đoạn mua là 49%.

khaosat1Mô hình dạng hình phễu trong quá trình mua (đi từ nhận thức, xem xét đến tham khảo và rồi mua) đã được chấp nhận rộng rãi như một phương thức quan trọng để quan sát được cách người tiêu dùng tiến triển qua các giai đoạn và đi đến một quyết định mua. Nhưng cho đến hiện tại vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu thực tiễn để xác định tác động của quảng cáo lên quyết định mua của người tiêu dùng.

”Nghiên cứu này mở ra những căn cứ mới và cộng đồng quảng cáo đã bày tỏ sự quan tâm đến những kết quả mà chúng tôi đã tìm ra vì rất có thể chúng có thể sẽ rất hữu ích cho họ.” Susan Cuccinello, phó chủ tịch phòng nghiên cứu khảo sát thị trường tại công ty TVB mới đây đã phát biểu như thế.

Bắt đầu tiến hành vào cuối tháng Giêng đến 10 ngày đầu tháng Hai, cuộc nghiên cứu trực tuyến đã khảo sát hơn 3,000 người tiêu dùng có xem các quảng cáo trên TV để xác định vai trò của phương tiện quảng cáo trên TV đến hành vi của giới tiêu dùng qua quá trình ra quyết định tiêu dùng của họ. Nghiên cứu còn xác định cách TV tương tác với những hệ thống thông tin đại chúng khác và vai trò của những hệ thống khác nhau này trong chu kỳ mua của người tiêu dùng. Bên cạnh đó nghiên cứu này cũng đo lường phản ứng của người tiêu dùng trong 15 nhóm hàng tiêu dùng bao gồm xe hơi, các dịch vụ tài chính, nhà hàng, cửa hàng giảm giá, tiệm bách hóa, cửa hiệu đồ trang trí nội thất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, môi trường, du lịch và bưu chính viễn thông..

Theo Mediaweek.com

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png


Vực dậy tinh thần của nhân viên

Trưởng phòng là cấp quản lý trung gian, là cầu nối giữa ban giám đốc với các nhân viên trong doanh nghiệp bởi vì phòng chính là một thực thể độc lập chịu trách nhiệm về một mảng nghiệp vụ cụ thể của doanh nghiệp.

vuc_day_tinh_than_cua_nhan_vienVới tư cách là một người trưởng phòng phải xử lý như thế nào trong trường hợp các nhân viên của mình xuống tinh thần và cảm thấy chán nản thất vọng khi phải đối đầu với những trở ngại khách quan trong công việc?

Trong chương trình Chìa khoá Thành công Phát sóng vào 21h15 phút, thứ tư, ngày 29/4 trên sóng VTV 1 đưa ra tình huống về việc các thành viên trong một nhóm cảm thấy thất vọng khi dự án mà họ bỏ ra bao công sức để hoàn thành tiến độ bị đánh giá thấp và không được nhận thưởng như Ban Lãnh đạo công ty đã hứa. Đến mức, họ đã không muốn tiếp tục nhận dự án mới. Để xử lý tính huống này và xóc lại tinh thần cho nhân viên đòi hỏi nhiều ở bản lĩnh của người trưởng phòng. Theo anh Phạm Bảo Trung – Trưởng phòng Elearning của một doanh nghiệp ở Hà Nội cho rằng, trước hết, người trưởng phòng sẽ nhận trách nhiệm chính về mình bởi mình là trưởng phòng. Sau khi đã nhận lỗi thì cần phải phân tích rõ ràng cho các nhân viên của mình thấy rằng trong dự án này còn mắc những lỗi như thế nào, nó chưa được hoàn hảo nên mới không được tiền thưởng. Tuy nhiên vẫn có một buổi tuyên dương đối với các thành viên trong nhóm đã hoàn thành dự án trong một thời gian rất ngắn mặc dù nó còn lỗi. Sau cùng, người trưởng phòng nên động viên nhân viên của mình rằng các bạn vẫn còn những cơ hội khác để có thể giành giải thưởng.

Tuy nhiên, ông Thái Quốc Minh – Chủ tịch, TGĐ Công ty TNHH Đầu tư tư nhân Vina cho rằng, mỗi dự án đều khác nhau, dự án sau chưa chắc đã giống dự án trước thì lấy gì để trưởng phòng tự tin khẳng định rằng dự án sau chắc chắn sẽ thành công? Và nếu trong trường hợp dự án sau cũng không thành công vì một lý do nào đó thì người trường phòng phải trả lời thế nào? Trả lời câu hỏi này, anh Trung nói: “Mỗi một dự án đều có những điểm khác nhau tuy nhiên sau mỗi dự án chúng ta đều học được cách làm dự án như thế nào đó để thành công. Trong trường hợp giả sử dự án sau cũng thất bại thì chắc chắn vấn đề phải nằm trong cách quản lý của người trưởng phòng”.

Ông Thái Quốc Minh bày tỏ sự đồng tình với anh Bảo Trung về việc trước khi bắt tay vào một dự án mới thì phải tổng kết được những dự án cũ. Theo ông Minh, trong cuộc họp với các cán bộ bạn nên nói: Với dự án này tôi là trưởng phòng thay mặt cho quyền lợi của tất cả các nhân viên trong phòng đã đấu tranh với ban giám đốc và đã phân tích với ban giám đốc về những sai sót mà chúng ta không được thưởng và thấy quyết định của ban giám đốc là có lý. Và việc quan trọng cuối cùng là bạn nên có một sự cam kết cá nhân đối với sự thành công của dự án mới. Ông Nguyễn Cảnh Bình – Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty CP Sách Alpha cũng cho rằng, nên có một hành động nào đó để làm rõ trách nhiệm của mình trong từng dự án trong từng công việc. Ông Huỳnh Bửu Sơn – Chuyên viên kinh tế cao cấp đánh giá cao về tinh thần nhận trách nhiệm đối với sự thất bại của dự án của anh Bảo Trung. Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng, nếu chỉ biết nhận trách nhiệm mà không giải thích được rõ ràng sự thất bại này không phải do lỗi của riêng bạn thì nhân viên của mình sẽ nghĩ họ làm tốt và do lỗi của mình nên họ mới không được thưởng, như thế thì họ khó có thể nhận thấy được phần sai sót và trách nhiệm của họ trong sự thất bại của dự án.

( SEMvietnam – Nguồn: Diễn đàn doanh nghiệp)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Thế giới đã chạm đáy khủng hoảng

Trong cuộc họp G7 tại Washington, các nhà lãnh đạo của thế giới đều nhận định thời kỳ tồi tệ nhất của cơn suy thoái đã qua. Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu nào của sự phục hồi.

Các bộ trưởng tài chính từ 7 quốc gia kinh tế phát triển nhất đã nhóm họp hôm qua để tìm ra con đường vượt qua cơn bão tài chính toàn cầu. Tin tốt với thế giới là giai đoạn xấu nhất đã qua. Sau phiên họp, các bộ trưởng tài chính và lãnh đạo ngân hàng cho biết các hoạt động kinh tế có thể sẽ dần ổn định từ cuối năm nay.

Bộ trưởng Tài chính Đức Jorg Asmussen (ngoài cùng bên trái), Thống đốc Ngân hàng Pháp Christian Noyer (thứ ba từ trái qua), Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde (thứ tư từ trái qua) trong cuộc họp G7 diễn ra hôm qua tại Văn phòng của Bộ Tài chính Mỹ tại Washington.

Tuy nhiên, nhiều người nhận định triển vọng vẫn còn khá u ám và có khả năng mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn. Bộ trưởng tài chính Mỹ tuyên bố: “Nếu lạc quan rằng kinh tế thế giới sắp đi lên là không đúng”. Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản, ông Kaoru Yosano nói cho đến nay thời điểm phục hồi vẫn còn là một dấu hỏi.

Những nhận định lần này ít nghiêm trọng hơn Hội nghị thượng đỉnh lần trước hồi tháng 2. Khi đó, các nhà lãnh đạo thế giới lo ngại rằng cơn suy thoái có thể diễn ra hết 2009 và không ai đề cập đến câu hỏi về sự phục hồi.

khunghoang

Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế Dominique Strauss-Kahn đang thảo luận với Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde trước thềm cuộc họp.

Trong cuộc họp hôm qua, thông cáo viết: “Những số liệu thống kê gần đây cho thấy tốc độ đi xuống của kinh tế toàn cầu đã chậm lại, một vài dấu hiệu le lói khả năng ổn định tăng trưởng trong tương lai”. “Chúng ta sẽ tiếp tục hành động để duy trì các khoản vay, ổn định tính thanh khoản, hỗ trợ nguồn vốn cho các định chế tài chính, bảo vệ tài khoản tiền gửi trong ngân hàng. Chúng tôi tái khẳng định lòng quyết tâm của khối G7 trong việc bảo đảm hoạt động vững chãi của các tổ chức tài chính quan trọng”, tuyên bố viết.

Nhóm 7 quốc gia phát triển nhất bao gồm Mỹ, Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy và Nhật Bản. Cuộc họp của nhóm G7 diễn ra một ngày trước khi hai định chế lớn Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế gặp gỡ trong cuộc họp diễn ra hai năm một lần.

Áp lực đang ngày càng lớn trên vai nhóm G7 trong việc giúp hệ thống ngân hàng thoát khỏi những tài sản độc hại. Khối tài sản này đang kìm hãm hoạt động cho vay của các ngân hàng và là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế toàn cầu rơi xuống vực sâu nhất kể từ Cơn Đại Suy thoái.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính tổng thiệt hại của các tổ chức tài chính khắp thế giới có thể lên đến 4 nghìn tỷ USD. IMF cho rằng các quốc gia giàu nhất trên thế giới phải ưu tiên giải quyết vấn đề của khu vực tài chính trước vì kinh tế thế giới không thế phục hồi nếu nguồn tín dụng không tiếp tục chảy trên thị trường.

( SEMvietnam – Theo VnExpress/Reuters)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

George Soros – kẻ khuynh đảo thị trường tài chính thế giới

Chỉ vài tháng trước khi kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, tỷ phú Soros nhận định, hệ thống tài chính đang ở trong tình trạng “siêu bong bong” và chỉ chờ ngày vỡ.

sorosgeorgeTrong cuốn sách mang tên “Mô hình mới của thị trường tài chính” (tạm dịch từ The new paradigm for financial markets), Soros mô tả hiện tượng “siêu bong bong” trên thị trường tài chính đã hình thành trong suốt 25 năm qua và chỉ ngày vỡ. Đây là cuốn thứ ba trong một series sách của Soros đề cập đến thảm họa đối với thị trường tài chính. Trong đó, tỷ phú đầu cơ viết một cách ẩn dụ: “Tôi đã đếm số lần sói tru. Lần đầu tiên là trong cuốn ‘Thuật giả kim của thị trường tài chính’, lần thứ hai là cuốn ‘Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu’ và lần thứ ba là trong cuốn sách này. Sau 3 lần sói tru, con sói thực sự sẽ đến”.

Tỷ phú cũng nhận định, hiện chưa có triển vọng về việc tìm ra giải pháp trong ngắn hạn cho cuộc khủng hoảng tài chính. Soros cũng là người công khai phản đối mạnh mẽ nhất kế hoạch của cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các định chế tài chính.

Sự nghiệp của Soros có nhiều mảng tối, trong đó có những lần bị phạt vì đầu cơ tiền tệ hoặc bị cáo buộc về giao dịch nội gián. Năm 1988, Soros nhận được lời đề nghị tham gia nắm giữ ngân hàng khổng lồ của Pháp Société Générale. Soros từ chối, nhưng sau đó mua một lượng cổ phần của ngân hàng này trước khi thông tin về việc chuyển nhượng ngân hàng được công bố rộng rãi. Một năm sau, giới chức Pháp bắt đầu điều tra về vụ việc và đến năm 2002, một tòa án nước này kết luận hành vi của Soros là giao dịch nội gián và tuyên phạt vị tỷ phú 2,3 triệu USD, bằng đúng số tiền Soros kiếm được từ vụ mua cổ phần của Société Générale. Soros phủ nhận và nói rằng thông tin về vụ chuyển nhượng đã được công bố rộng rãi.

Mới đây, quỹ đầu tư Soros Management Fund bị cơ quan quản lý Hungary, nơi Soros sinnh trưởng, phạt 2 triệu USD vì thực hiện kế hoạch đầu cơ tấn công đồng nội tệ của nước này.

Song tên tuổi của Soros được biết đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới qua vụ đầu cơ đồng bảng Anh vào năm 1992. Vào ngày Thứ tư Đen tối 16/9/1992, Soros đột nhiên trở nên nổi tiếng khi bán khống lượng bảng Anh có giá trị tương đương trên 10 tỷ USD, và kiếm lợi từ việc Ngân hàng Trung ương Anh do dự lựa chọn hoặc nâng lãi suất nội tệ lên ngang bằng với lãi suất tại các nền kinh tế khác trong Tổ chức sử dụng chung cơ chế tỷ giá châu Âu, hoặc thả nổi đồng nội tệ.

Cuối cùng, Ngân hàng Trung ương Anh buộc phải rút đồng bảng Anh ra khỏi cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu và phá giá đồng bảng. Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ này và được biết đến với biệt danh “kẻ phá hoại ngân hàng trung ương Anh”. Những người thân cận của Soros có lần tiết lộ, khi thấy những điểm yếu của đồng bảng trong thời điểm đó, Soros đã hối thúc những người dưới quyền tận dụng lợi thế của mình chuẩn bị cho cuộc “tấn công” vào đồng tiền này.

Năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Soros một lần nữa “đánh” đồng tiền của các quốc gia, trong đó khu vực Đông Nam Á rơi vào tầm ngắm. Quỹ đầu cơ của Soros bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để hưởng lợi trực tiếp từ chiến lược đầu cơ vào đồng tiền đó. Soros phản bác các cáo buộc và nói rằng quỹ của ông đơn thuần kiếm lợi từ chính những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới mà ai cũng biết. Chiến lược đầu tư của quỹ này được dựa trên phân tích về các xu hướng kinh tế vĩ mô đang diễn ra hoặc được nhận định sớm diễn ra tại một số nước.

Cách nhìn của giới đầu tư quốc tế cũng như lãnh đạo các nền kinh tế về Soros không đồng nhất, bởi với nhiều người, Soros như một tội đồ vì đã “đánh” các đồng tiền để kiếm lợi. Song người ta đều nhìn nhận Soros là một nhà đầu tư huyền thoại, với những nhận định xác đáng về sức khỏe nền tài chính thế giới. Cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) Paul Volcker từng nói: “George Soros đã tạo nên dấu ấn trên thị trường tài chính với tư cách một nhà đầu cơ đại tài, đủ khôn ngoan để rút lui ngay cả khi trò chơi vẫn ở phía trước. Lợi nhuận khổng lồ ông kiếm được hiện được sử dụng để thúc đẩy thay đổi tại những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi”.
Sinh trưởng trong một gia đình người Hungary gốc Do Thái, George Soros di cư sang Mỹ từ những năm 1950. Cha của ông, Tivadar Soros, là một nhà văn có tiếng tại Hungary. Trước khi sang Mỹ, Soros từng sống tại nhiều nước châu Âu và học Triết học.

Đặt chân tới Mỹ năm 1956, Soros khởi nghiệp từ vị trí nhân viên môi giới tại hãng tài chính F.M. Mayer và là nhà phân tích cho Wertheim and Company cho tới giữa những năm 1960. Trong thời gian này, Soros nghiên cứu một triết lý đầu tư của riêng mình có tên “reflexibity” (tạm dịch: cơ chế phản xạ), với quan điểm cách định giá thị trường của chính những người tham gia thị trường sẽ tác động tới giá trị đã được xác định trên cơ sở sổ sách. Đây về sau trở thành nguyên lý cơ bản của hoạt động của các quỹ đầu cơ do Soros điều hành.

Năm 1973, Soros từ bỏ vị trí phó chủ tịch một tập đoàn đầu tư tại New York và lập hãng đầu tư riêng,về sau hãng này chuyển đổi thành Quỹ Quantum. Ông tuyên bố muốn kiếm đủ tiền từ thị trường tài chính để hỗ trợ sự nghiệp viết sách và nghiên cứu triết học của mình, và dự kiến mỗi năm kiếm được 500.000 USD là chấp nhận được. Nhưng hoạt động đầu tư của Soros sau này chủ yếu được gắn liền với Soros Fund Management.

Với lượng tài sản trị giá khoảng 11 tỷ USD, Soros hiện là người giàu thứ 29 tại Mỹ theo bảng xếp hạng của Forbes, với hoạt động trong nhiều lĩnh vực, từ đầu tư chứng khoán, đầu cơ ngoại hối, kinh doanh. Vị tỷ phú này cũng là một nhà hoạt động xã hội và nhà hoạt động chính trị.

Hiện tỷ phú 79 tuổi này nắm giữ Soros Management Fund, Viện xã hội mở, và từng là một thành viên của Ban lãnh đạo của Hội đồng quan hệ quốc tế của Mỹ. Với 2 người vợ, và cả 2 đều đã ly dị, Soros có 5 người con.

Ông cũng là người tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Từ những năm 1970 đến nay, Soros liên tục đóng góp cho các quỹ hỗ trợ sinh viên người da màu học đại học, đặc biệt tại Nam Phi. Tạp chí Time ước tính, tổng số tiền Soros đã chi cho các chương trình xã hội tại Mỹ, châu Phi và Nga vào khoảng 6 tỷ USD.

George Soros cũng được biết đến với những phát ngôn gây chấn động, đặc biệt đối với chính quyền của cựu tổng thống Mỹ Georrge Bush. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post năm 2003, Soros tuyên bố việc đánh bật ông Bush ra khỏi vị trí tổng thống là “tâm điểm của cuộc đời tôi” và đây là một “vấn đề sinh tử”. Vị tỷ phú này còn nói sẽ sẵn sàng đánh đổi cả gia sản của mình cho mục tiêu này.

Soros đã thực hiện đúng như tuyên bố này, khi năm 2004, ông là một trong những người đóng góp lớn nhất cho các đối thủ của ông Bush trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Thống kê của Trung tâm phản ứng chính trị Mỹ cho thấy, Soros đã đóng góp tổng cộng 23,5 triệu USD cho trên 500 tổ chức nhằm vận động cho việc đánh bại ông Bush. Song ông Bush vẫn tái đắc cử và có nhiệm kỳ thứ hai.

(SEMvietnam – Theo Vnexpress)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png