Top 5 điều hoang tưởng về SEO

SEO (Search Engine Optimization) là một nghệ thuật, một công việc hàng ngày và mang tính cạnh tranh cao. Không ít người hứa những điều không tưởng về kết quả công việc SEO đối với bạn và sau đây là 5 trong số đó.

1. Kết quả 24 giờ: Không ai có thể thấy được kết quả của công việc này chỉ trong vòng 24 giờ. Có rất nhiều lời quảng cáo từ phía các SEO mũ đen như “Lên top 10 chỉ trong vòng 8 giờ”. Theo kinh nghiệm của những chuyên gia SEO lâu năm, những “ông lớn” trong thị trường tìm kiếm – Google, Yahoo, MSN – đều mất tới cả ngày chỉ để đặt chỉ mục các trang web.

Google luôn là công cụ lôi kéo được nhiều chủ sở hữu trang web mới – cho dù thế nào đi nữa thì cuộc chiến thứ hạng tìm kiếm vẫn diễn ra thường xuyên. Hầu hết các nguyên nhân để mang đến thành công là nhờ việc xây dựng những liên kết có chất lượng và/hoặc những độc giả trung thành.

Tất cả những người làm SEO nói đến kết quả mang lại nhanh chóng là do họ phát tán các liên kết của trang web với tốc độ cao và điều này có thể mang đến kết quả ngược lại do các cỗ máy tìm kiếm liệt họ vào những trang web spam và loại bỏ khỏi các thuật toán tìm kiếm. Điều này không mang lại lợi ích lâu dài cho một trang web muốn vươn lên thứ hạng cao trong mắt các công cụ tìm kiếm.

2. Vị trí top là mãi mãi: Không có gì có thể đảm bảo vị trí của một trang web trước thứ hạng của công cụ tìm kiếm nếu như chất lượng của trang web vẫn chỉ dậm chân tại chỗ, và trang thứ hạng của trang web đó có thể mất bất cứ lúc nào vào tay các đối thủ của mình. Đây là điều chắc chắn bởi các trang khác luôn tìm cách để cải thiện thứ hạng của mình trong con mắt của công cụ tìm kiếm. Và cũng không có sự chắc chắn nào cho các vị trí trong trang kết quả đầu tiên.

Đối với những trang web mới, cần phải có một vài thủ thuật nhỏ để nhanh chóng đạt được những thứ hạng nhất định. Nhưng để lọt vào top 10 trong bảng kết quả thì đó là một công việc vô cùng khó khăn. Một vị trí tốt là một trang web có khởi đầu chậm chạp và lớn lên cùng với sự phát triển của trang web.

Xem chi tiết

2 danh sách các CEO nên xem mỗi sáng

Tôi đã đến muộn trong cuộc gặp với CEO của một công ty công nghệ và tôi đã mail cho ông ấy từ iPhone khi đang đi bộ trong thang máy ở tòa nhà của công ty ông.

ceo_2Tôi tập trung màn hình khi đi lên tầng 6. Tôi vẫn đánh với ngón tay cái của mình. Khi cửa thang máy mở, tôi bước ra ngoài nhưng lại không nhìn gì cả. Sau khi tôi nghe thấy một tiếng ai đó phía sau, “Đi sai cửa rồi, thưa ông”. Tôi nhìn lại phía sau người đàn ông, người đang giữ cửa mở để tôi trở lại, đó chính là CEO, một nụ cười tươi trên khuôn mặt. Ông ấy đã đi cùng cầu thang với tôi trong cả thời gian đó.

Thế giới chuyển động thật nhanh và ngày càng nhanh hơn. Quá nhiều công nghệ, quá nhiều thông tin, quá nhiều điều để nghĩ về nó và hành động. Một người bạn của tôi gần đây đã có được một công việc mới với vai trò là người đứng đầu nhóm phát triển ở một ngân hàng đầu tư quy mô trung bình. Vào ngày đầu tiên đi làm, cô ấy bật máy tính lên, nhập password mà công ty đưa cho và đã có 385 tin nhắn đang sẵn sàng chờ cô ấy.

Vì thế, chúng ta đang tăng tốc để phù hợp với bước đi của các hoạt động quanh ta. Chúng ta phải ở lại tới tận 3 giờ sáng để trả lời tất cả các email. Chúng ta vào twitter, facebook, và link-in. Chúng ta kiểm tra cẩn thận các website mới để chắc chắn rằng chúng ta luôn cập nhật những thông tin mới nhất. Và chúng ta giật mình mỗi khi nghe thấy tiếng bip bip hoặc tiếng “bum” của một tin nhắn mới.

Nhưng đó là một sai lầm. Tốc độ thông tin chóng mặt tác động mạnh đến chúng ta là điều không thể tránh khỏi nhưng đôi khi cố gắng bắt kịp nó thì lại phản tác dụng. Sóng đến càng nhanh thì chúng ta càng phải tính toán cẩn thận hơn để không bị cuốn đi. Nếu không thì chúng ta sẽ bị sóng đánh giống như những hạt cát rơi lả tả và bị lãng quên. Trước đây, chẳng bao giờ là quá quan trọng để quan tâm và biết cái gì là quan trọng.

Trước đây, chẳng bao giờ quan trọng khi nói “Không”. Không, tôi sẽ không đọc bài báo này. Không, tôi sẽ không đọc email kia. Không, tôi sẽ không gọi điện. Không, tôi sẽ không tham dự cuộc họp.

Nhưng thành công của chúng ta thực sự đang nằm ở vị trí đối diện: Sự sẵn lòng của chúng ta có nguy cơ phải chịu lỡ một số thông tin. Bởi vì cố gắng chú trọng tất cả sẽ gây rủi ro cho chính bản thân nó. Chúng ta sẽ kiệt sức, lung túng và dễ bực tức. Và chúng ta sẽ không nhìn thấy CEO đứng gần chúng ta trong thang máy.

Một nghiên cứu về tai nạn ô tô của Virginia Tech Transportation Institute đã đặt camera trong những ô tô để xem điều gì xảy ra trước khi có tai nạn. Họ nhận thấy rằng  80% tai nạn do người lái xe đã mất tập trung trong suốt 3 giây trước khi xẩy ra tai nạn. Mặt khác, họ thiếu tập trung, họ gọi điện thoại, thay đổi kênh radio, ăn bánh sandwich, kiểm tra tin nhắn…và không chú ý rằng mọi thứ đang thay đổi quanh chúng ta. Sau đó, họ đã gặp nạn. Thế giới đang thay đổi nhanh và nếu chúng ta không chú ý đến đường đi, không cưỡng lại được sự mất tập trung, thì chúng ta sẽ làm tăng cơ hội tai nạn.

Bây giờ là thời điểm tốt để tạm ngưng lại, ưu tiên và chú trọng đến một số vấn đề. Hãy làm 2 danh sách:

Danh sách số 1: Danh sách trọng tâm của bạn (con đường)

Bạn đang cố gắng để đạt được cái gì? Điều gì làm bạn vui? Điều gì quan trọng đối với bạn? Hãy thiết lập thời gian quanh những điều trên. Bởi vì thời gian là một nguồn có giới hạn và bạn không thể làm việc 25/8.

Danh sách 2: Danh sách những việc có thể lờ đi (sự mất tập trung)

Để thành công trong việc sử dụng thời gian của mình một cách thông minh, bạn phải hỏi những điều quan trọng tương đương nhau nhưng thường tránh những câu có tính bổ sung: Bạn không sẵn lòng đạt được điều gì? Điều gì không làm cho bạn thoải mái? Điều gì không quan trọng đối với bạn?

Một số người có danh sách đầu tiên. Một số có danh sách thứ hai. Nhưng tốt hơn nên đưa ra cách mà chúng ta dễ dàng mất tập trung và bao nhiêu điều phiền nhiễu chúng ta có, danh sách thứ hai quan trọng hơn. Các nhà lãnh đạo sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai để biết những câu trả lời cho các câu hỏi này và mỗi lần có một yêu cầu về mức độ tập trung họ cần đặt cho mình câu hỏi nên chú trọng hay lờ nó đi.

Điều đó có nghĩa là bạn không nên lập những danh sách một lần và sau đó là đặt chúng ở một ngăn kéo. Hai danh sách này là bản đồ của bạn cho mỗi ngày. Hãy xem chúng mỗi buổi sáng, rồi so với lịch của bạn và hỏi: Kế hoạch trong ngày hôm nay là gì? Tôi nên dành thời gian vào công việc nào? Sau đó, hãy tìm sự can đảm để làm chúng.

Sau khi CEO cười tôi ở thang máy, ông ấy nói với tôi về cuộc gặp. Đó là một cuộc hội tụ của tất cả những người giỏi, trong đó ông ấy là một và chủ đề của cuộc gặp là Doanh nhân của năm. Đây là một cuộc gặp dành cho cho ông ấy – Và trước khi ông bước vào, ông có hai quyết định chính xác: 1. Chú trọng vào bản thân cuộc họp. 2. Không kiểm tra điện thoại

—————

Vài nét về tác giả: Peter Bregman là người phát ngôn, tác giả và là nhà tư vấn.  Ông là CEO của Bregman Partners, Inc., một công ty tư vấn quản lý toàn cầu và cố vấn cho các CEO vào nhóm của họ. Ông còn là tác giả của cuốn Point B: A Short Guide To Leading a Big Change.

(SEMvietnam – Theo H.B.R)

George Bush cũng là một trong những “thủ phạm” của suy thoái kinh tế

Ngoài Bill Clinton, danh sách 25 nhân vật có “công” với suy thoái kinh tế còn có tên cựu tổng thống Mỹ George Bush và siêu lừa Bernard Madoff.


13. Marion và Herb Sandler

thupham-13

Vào đầu 1980, Ngân hàng Sandlers’ World Savings là nơi đầu tiên cung cấp những khoản vay mạo hiểm để mua bất động sản, với tên gọi vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), một dạng của vay dưới chuẩn. Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn để trả nợ và nhờ đó giảm bớt khoản tiền phải trả. Người đi vay sẽ phải chấp nhận rủi ro lãi suất tăng. Vào thời kỳ đầu khi vay, họ được hưởng lãi suất thấp hơn so với loại hình cho vay bình thường. Tỷ lệ vỡ nợ của loại hình cho vay này rất cao. Tuy vậy, Sandlers’ World Savings vẫn duy trì mô hình kinh doanh của họ thêm hai thập kỷ nữa bằng những quảng cáo gây nhầm lẫn. Cặp đôi Marion và Herb Sandler bỏ túi 2,3 tỷ USD khi họ bán Ngân hàng cho Wachovia. Năm 2008, đến lượt Ngân hàng Wells Fargo ôm gói thuốc nổ khi mua lại Wachovia.

14. George W. Bush

thupham-14

Các nhà đầu tư không biết phải nên cảm ơn hay oán trách cựu Tổng thống George Bush. Một mặt, ông đã ra nhiều quyết định cởi trói cho ngân hàng, các nhà môi giới thế chấp và sớm phát hiện, đề xuất các biện pháp kiểm soát chặt chẽ với hai đại gia cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac. Mặt khác, ông đã không thể thuyết phục Quốc hội đồng thuận với quan điểm của mình. Sau scandal của hãng năng lượng khổng lồ Enron, Bush đã ký duyệt đạo luật Sarbanes-Oxley nhằm bảo vệ nhà đầu tư và tạo những thay đổi quan trọng trong luật chứng khoán Mỹ kể từ sau Đại suy thoái 1930. Tuy nhiên, đạo luật này gần đây bị các nhà phân tích cho là đã cản trở tính cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp Mỹ. Và cuối cùng, chính Bush là người chứng kiến sự suy sụp của hệ thống tài chính Mỹ cũng như toàn thế giới trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra.

15. Stan O’Neal

thupham-15

Stan O’Neal giữ chức CEO tại Ngân hàng Merrill Lynch trong vòng 6 năm, kết thúc nhiệm kỳ vào 2007. Từ một ngân hàng thân thiện, Merrill Lynch được O’Neal cải tạo thành một kẻ tham lam, lún ngày càng sâu vào canh bạc mua bán nợ thế chấp có bảo đảm, hầu hết trong số đó là trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Tính đến tháng 6/2006, trị giá trái phiếu dưới chuẩn và nợ thế chấp trong tay Merrill Lynch đã lên đến 41 tỷ USD. Khi thị trường dưới chuẩn suy sụp, Merrill Lynch rơi vào khủng hoảng và sau đó bị Bank of America thâu tóm là điều không làm ai ngạc nhiên.

16. Trung Quốc

thupham-16

Việc Trung Quốc góp mặt trong danh sách “thủ phạm” chứng tỏ vai trò ngày càng lớn của nước này đối với kinh tế thế giới. Với nguồn tài sản dồi dào, Trung Quốc đã mua quá nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ trong suốt 8 năm trở lại đây. Nước này trở thành chủ nợ lớn nhất của nền kinh tế lớn nhất thế giới với giá trị tài sản nắm giữ lên đến 1,7 nghìn tỷ USD.

17. David Lereah

thupham-17

Nếu một chuyên gia nào đó nói vu vơ rằng thị trường bất động sản sẽ ngày càng phát triển, nhà đầu tư sẽ ít nhiều hoài nghi. Tuy nhiên, tuyên bố này được chính David Lereah, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà Kinh doanh Bất động sản Mỹ phát ngôn nên người ta tin ngay lập tức. Ông nhắc đi nhắc lại trong các buổi phỏng vấn truyền hình rằng nhà đất là một kênh đầu tư đúng đắn. Ông thúc giục mọi người vay tiền mua nhà trong cuốn sách “Có phải bạn đã bỏ lỡ cuộc bùng nổ Bất động sản” xuất bản năm 2005. Năm 2006, ông cũng tỏ chút thái độ hoài nghi nhưng chỉ sang đầu 2007, ông khiến nhà đầu tư tiếp tục vay tiền mua nhà sau tuyên bố: “Thị trường bất động sản đã vượt đáy”.

18. John Devaney

thupham-18

John Devaney là đại diện tiêu biểu nhất cho giới đầu cơ. Các quỹ này đóng vai trò to lớn trong lĩnh vực mua bán tài sản thế chấp. Bằng việc mua lại các khoản nợ có tài sản thế chấp, Devaney và nhiều ông chủ quỹ đầu cơ khác đã kích thích vòng quay ngày càng phát triển. Chủ nợ cho khách hàng vay dưới chuẩn, rồi bán những tờ giấy nợ đó kiếm lời. Về phần mình, quỹ đầu cơ háo hức mua lại đống giấy này với hy vọng sẽ thu lại khoản lợi nhuận béo bở khi người vay trả tiền. John Devaney có hẳn một quỹ trị giá 600 triệu USD, chuyên mua lại các khoản nợ nguy hiểm. Tệ hơn, Devaney biết rõ những khoản vay này tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Vào đầu năm 2007, khi nói về vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), ông từng phát biểu: “Chỉ có người điên mới đi mua lại những khoản vay này. Thế nhưng đây lại là lĩnh vực kinh doanh béo bở nhất của chúng tôi”.

19. Bernard Madoff

thupham-19

Vụ lừa đảo lịch sử trị giá 50 tỷ USD của Bernard Madoff đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngân hàng, quỹ đầu cơ, tổ chức tài chính lớn. Tổng cộng, số nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của Madoff lên đến 3 triệu người. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người Mỹ cảm thấy cay đắng nhất là Bernard Madoff đã diễn trò suốt nhiều thập kỷ ngay trước mũi các nhà chức trách. Sự thật này đã dẫn đến lòng nghi ngờ về trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo trong hệ thống tài chính Mỹ. Tâm lý lo ngại trong dân chúng khiến suy thoái trở nên càng tồi tệ hơn.

20. Lewis Ranieri

thupham-20

Lewis Ranieri được xem là “cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Vào cuối những năm 1970, Lew Ranieri là người đầu tiên dùng từ “chứng khoán hóa”, chỉ các khoản vay bất động sản được biến thành các giấy tờ có giá rồi bán cho nhà đầu tư tại Phố Wall. Đến năm 1984, Lew Ranieri khoác lác rằng việc kinh doanh tài sản thế chấp của ông tạo ra nhiều tiền hơn tất cả các giao dịch tại Phố Wall cộng lại. Quả thật thời kỳ hoàng kim của giao dịch trái phiếu bằng tài sản thế chấp bùng nổ vào đầu những năm 2000, vực Phố Wall khỏi thời kỳ làm ăn bết bát. Các hãng đầu tư được đà xông lên, đổ nhiều khoản tiền khổng lồ đặt cược vào chứng khoán loại hình này. Tuy nhiên, khi những người đi vay dưới chuẩn bắt đầu không trả được nợ, thị trường chững lại và giá trái phiếu xuống dốc không phanh. Vào thời điểm đó, các ngân hàng đầu tư đã nuốt quá nhiều món tài sản độc hại. Hệ quả tất yếu là ngân hàng lần lượt sụp đổ và các nhà đầu tư cùng nhau mất tiền.

21. Burton Jablin

thupham-21

Không chỉ các nhà kinh tế mà cả ông hoàng truyền hình của kênh Scripps Networks, Burton Jablinw cũng bị đổ trách nhiệm trong suy thoái tài chính. Là ông chủ của kênh HGTV và nhiều kênh khác, ông đã tiếp khá nhiều sức lực trong việc việc thổi căng trái bóng bất động sản. Với uy tín của mình, Jablin khiến các chương trình truyền hình về bất động sản được đón nhận nhiệt liệt ở 97 triệu hộ gia đình trên khắp nước Mỹ. Ông sản xuất các chương trình ăn khách như “Trang trí nhà cửa trước khi bán” hay “Nhà tôi trị giá bao nhiêu” khiến khán giả phát cuồng và càng đam mê đổ tiền vào bất động sản.

22. Fred Goodwin

thupham-22

Giới đầu tư và bình luận thế giới ưu ái dành cho ông chủ của Royal Bank of Scotland (RBS), nhiều biệt danh như “nhà ngân hàng tệ nhất thế giới”, hay “người hoang tưởng”, hay thậm chí là “kẻ tham lam”. Chủ trương của ông mua lại tất cả các ngân hàng và định chế tài chính có thể, bất chấp hiệu quả kinh tế. Kết quả tích cực là không lâu sau khi nắm quyền, ông đã biến RSB từ một ngân hàng tỉnh lẻ đột ngột ngoi lên trở thành một trong năm ngân hàng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu dần u ám vào năm 2007, ông vẫn quyết tâm mua lại đối thủ là Ngân hàng Hà Lan ABN Amro, dù cái giá 100 tỷ USD không hề rẻ. Vụ mua bán đã làm ngân khố của RSB cạn kiệt, trong khi Amro đã chứng tỏ là miếng mồi quá lớn, ngoài khả năng tiêu hóa của RBS. Kết quả là mùa thu năm ngoái, chính phủ Anh phải rót 30 tỷ USD cho ngân hàng này. Năm 2008, RSB là ngân hàng có thua lỗ lớn nhất nước trong lịch nước Anh.

23. Sandy Weill

thupham-23

Ban đầu chỉ là ngân hàng cho vay cấp thấp, Citigroup đã phát triển vượt bậc trở thành tập đoàn tài chính lớn nhất nhì của nước Mỹ dưới tay Sandy Weill. Tuy nhiên, cùng với cựu Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ Phil Gramm, ông là người đã đứng ra vận động hàng lang hủy bỏ luật Glass-Steagall. đạo luật hạn chế các ngân hàng tham gia những hoạt động kinh doanh rủi ro. Kết cục mà Citigroup nhận lấy ngày hôm nay là trở thành một trong những khối rắc rối lớn nhất của chính phủ Mỹ. Do đó, cho đến nay chính phủ Mỹ đã phải rót 45 tỷ USD để duy trì sự sống cho Citi, với quyết tâm không thể để tập đoàn này phá sản.

24. David Oddsson

thupham-24

Trong hai thập kỷ nắm cương vị Thủ tướng Iceland và sau đó là Thống đốc Ngân hàng Trung ương, David Oddsson đã lấy đất nước nhỏ bé của ông ra làm vật thí nghiệm cho lý thuyết về kinh tế thị trường. Ông tư nhân hóa 3 ngân hàng lớn nhất, áp dụng chính sách thả nổi tiền tệ, và tạo ra thời kỳ vàng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thí nghiệm của David Oddson đã thất bại và Iceland phá sản vào năm 2008. Giờ đây, quốc gia nhỏ bé này vinh dự được cho vào sách giáo khoa kinh tế, minh họa cho mục “đóng băng kinh tế vĩ mô”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc để giúp vực dậy tiền tệ nước này, vốn đã mất một nửa giá trị.

25. Jimmy Cayne

thupham-25

Trong khi nhiều CEO Phố Wall đang quay cuồng trong cơn bão tài chính, có một người dường như vẫn còn mơ ngủ là CEO Jimmy Cayne của Ngân hàng Bear Stearns. Ông vẫn ung dung dùng trực thăng đi đánh golf hơn 3 ngày trời hay đều đặn tham gia các cuộc thi đấu thể thao. Thậm chí người ta còn bắt gặp Cayne sử dụng chất kích thích. Hai quỹ đầu cơ lớn của Bear Stearns đã sụp đổ vào giữa năm 2007. Ngoài ra, tập đoàn này còn nắm giữ hơn 40 tỷ trái phiếu tài sản thế chấp hầu như đã vô giá trị. Vào đầu năm 2008, Ngân hàng Bear bị bán cho JPMorgan với cái giá còn bèo bọt hơn giá trị của tòa nhà dùng làm văn phòng công ty.

( SEMvietnam – Theo Time, Vnexpress )


Nhà Trắng công bố tài sản gia đình Obama

Ngày 16/5 Nhà Trắng đã chính thức công bố tài sản hiện có của Tổng thống Mỹ Barack Obama và đệ nhất phu nhân Michell Obama là từ 1,4 đến 5,9 triệu USD chưa kể giá trị ngôi nhà của phu nhân Michell ở Chicago và tài khoản ở ngân hàng trị giá 265.000 USD.

Theo thông tin từ Nhà Trắng, phần lớn tài sản hiện có của gia đình Tổng thống Obama là từ sách. Ngay từ khi ra đời hai cuốn sách của Tổng thống Obama mang tên “Ước mơ của cha tôi” và “Sự táo bạo của hy vọng” đã bán rất chạy, nhờ đó mà Tổng thống Obama đã nhận được khoản nhuận bút 2,5 triệu USD.

Số tiền nhuận bút này còn cao hơn cả tổng số lương và phụ cấp của Tổng thống Mỹ cộng lại trong suốt nhiệm kỳ 4 năm. Hiện mức lương và phụ cấp của Tổng thống Mỹ hàng năm là 400.000 USD.

Cuốn sách đầu tiên “Ước mơ của cha tôi” là cuốn tự truyện của Tổng thống Obama đã được xuất bản từ năm 1995 sau khi ông trở thành Chủ tịch của trường Đại học nổi tiếng nhất nước Mỹ Harvard, sau đó cuốn sách lại được  tái bản năm 2004 trước khi Obama bước vào vũ đài chính trị.

Cuốn sách này đã nhận được giải thưởng Galaxy British Book Awards của Anh như một cuốn tự truyện hay nhất.

obama

Ngoài ra, Tổng thống Obama cũng đã nhận được giải thưởng sau khi công bố cuốn sách thứ hai “Sự táo bạo của hy vọng” xuất bản năm 2006. Đây là một trong những cuốn sách bán chạy nhất. Trong cuốn sách này, Tổng thống Obama đã đề cập tới vấn đề toàn cầu, khủng hoảng kinh tế và cách thoát khỏi khủng hoảng.

Được biết, vào tháng 4/2009 gia đình Tổng thống Obama cũng đã chính thức công bố mức thu nhập của mình, trong đó phần lớn thu nhập có được là nhuận bút của hai cuốn sách bán chạy nhất hiện nay. Do đó, Obama thường được gọi là Tổng thống lương cao nhất.

( SEMvietnam – Theo VTC )

Google tiếp tục chảy máu chất xám

Tài năng của Goole vẫn chảy ra bên ngoài. Người ra đi gần đây nhất là David Rosenblatt, cựu CEO DoubleClick, lãnh đạo mảng quảng cáo hiển thị của Google.

Vì sao các chuyên gia lần lượt rời bỏ Google?

googleSong Rosenblatt mới chỉ là một trong số vài người Google quan trọng gần đây ra đi, trong đó có cựu sếp bán quảng cáo Tim Armstrong, hiện là CEO cua AOL; Larry Brilliant, người điều hành bộ phận từ thiện của Google.

Trong lịch sử 10 năm của Google, không có lúc nào mà lại có nhiều nhà quản trị ra đi trong một thời gian ngắn như thế.

Có lý do nào về thu nhập chăng? Một giám đốc đã ra đi đoán rằng không có đủ dư địa cho tăng trưởng ở Google. Các giám đốc điều hành muốn quyền kiểm soát “ngang bằng” hơn và mô hình quản trị từ trên cao của Gooel lại muốn giữ người bị khóa trong các vai trò thẳng đứng từ trên xuống. Hoặc là như thế, hoặc “có quá nhiều tài năng ở Google đến nỗi họ khó mà giữ được mọi người”.

Tin tốt là điều đó không thực sự thành vấn đề. Mỗi công ty đều bị mất đi tài năng, đặc biệt ở một công ty như Google đang đạt đến độ chín muồi sau khi tăng trưởng bùng nổ.

Mỗi nhân viên, tất nhiên, có các lý do khác nhau để ra đi. Nhiều người, như Rosenblatt, Armstrong, và Sukhinder Singh Cassidy muốn trở thành CEO – điều mà khó có thể xảy ra ở Google. Những người khác muốn có sự thay đổi về bối cảnh và quan điểm. Và những người khác nữa lấy séc của mình rồi đi đến các bãi biển như cựu Giám đốc tài chính (CFO) George Reyes.

Dưới đây là các tài năng Googler đã ra đi


David Rosenblatt

Chức danh: Chủ tịch quảng cáo hiển thị

Công việc mới: Chưa rõ

Ngày ra đi: 28/4/2009

Tim Armstrong

Chức danh: Phó chủ tịch bán quảng cáo

Công việc mới: CEO AOL

Ngày ra đi: 12/3/2009

Sukhinder Singh Cassidy

Chức danh: Chủ tịch các hoạt động châu Á-TBD và Mỹ La tinh

Công việc mới: Đối tác, Accel

Ngày ra đi: 8/4/2009

Larry Brilliant

Chức danh: Giám đốc Google.org

Công việc mới: Giám đốc quỹ Skoll Foundation

Ngày rời đi: 4/14/2009

Gonzalo Alonso

Chức danh: Giám đốc Mỹ La tinh

Công việc mới: Phó chủ tịch các hoạt động ở Globant

Ngày rời đi: 6/4/2009

Doug Bowman

Chức danh: Phụ trách thiết kế bộ phận Trải nghiệm người dùng

Công việc mới: Phụ trách thiết kế cho Twitter

Ngày rời đi: 20/3/2009

Kevin Fox

Chức danh: Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng

Công việc mới: Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng của FriendFeed

Ngày rời đi: 4/01/2008

Sheryl Sandberg

Chức danh: Phó chủ tịch các hoạt động và bán hàng trực tuyến toàn cầu

Công việc mới: COO của Facebook

Ngày rời đi: 4/03/2008

Elliot Schrage

Chức danh: Phó chủ tịch phụ trách truyền thông và quan hệ công chúng toàn cầu

Công việc mới: Sếp về quan hệ công chúng

Ngày rời đi: 6/5/2008

Chris Sacca

Chức danh: Phụ trách các sáng kiến đặc biệt

Công việc mới: Nhà đầu tư Angel

Ngày rời đi: 12/2007

Mike Horowitz

Chức danh: Phụ trách dịch vụ lưu hình ảnh Picasa

Công việc mới: Giám đốc sản phẩm, Fetch Technologies

Ngày rời đi: 1/12//2008

Steve Horowitz

Chức danh: Giám đốc kỹ thuật, Android

Công việc mới: Giám đốc công nghệ, Coupons.com

Ngày rời đi: 20/01/2009

Doug Merrill

Chức danh: Giám đốc thông tin, Phó chủ tịch kỹ thuật

Công việc mới: Gần đây từ chức chức chủ tịch mảng kỹ thuật số của EMI

Ngày rời đi: 1/4/2008

George Reyes

Chức danh: Giám đốc tài chính

Công việc mới: không

Ngày rời đi: 8/2007

( SEMvietnam – Theo ICTNEws )

Có hay không các nhà tỷ phú “bẩm sinh”?

Nếu bạn không có may mắn được lọt vào danh sách những người mà đại tỷ phú trong lĩnh vực giải trí Donald Trump gọi là có số “giàu từ trong trứng”, nghĩa là bạn không được sinh ra trong một gia đình giàu có, thì ít nhất bạn cũng đã một lần nghĩ đến việc làm thế nào để giàu lên được. Cũng có thể, bạn đã từng nghĩ làm thế nào để kiếm được 1 triệu đầu tiên, hoặc làm thế nào để nhanh chóng có bạc tỷ.

Nếu bạn từng nung nấu ý tưởng này thì trước khi bắt tay vào biến nó thành hiện thực hãy tự đánh giá mình một cách thật khách quan xem bạn có sở hữu những phẩm chất cá nhân giống như ở các nhà tỷ phú thế giới hay không.

Nhìn và thấy

Những người tự tay làm nên bạc tỷ như Bill Gates hoặc Warren Buffet, thực chất là những nhà cách mạng. Nhà cách mạng ở đây được hiểu theo nghĩa họ không chỉ đạt được sự vượt trội trong một ngành công nghiệp nào đó, mà còn thực hiện các cuộc cải tổ mang ý nghĩa cách mạng đối với ngành đó. Để làm được điều vĩ đại ấy, tất nhiên là họ phải có trí tuệ, sự dũng cảm và cả yếu tố may mắn. Nhưng, ngần ấy thứ dường như vẫn là chưa đủ. Yếu tố cốt lõi mang đến cho họ thành công chính là khả năng nhìn xa trông rộng và nhữn phán đoán mang tính tiên tri.

Gerald Kraines, Giám đốc điều hành Levinson Institute nhận định rằng những tỷ phú tự mình làm nên cơ nghiệp đều có khả năng đoán trước được tương lai phát triển của sự việc và thấy được điều phần đông người khác không thể thấy.

Cách đây vài năm, các giáo sư trường Harvard Business School là Antony Maijo và Nitin Noria đã lập ra danh sách 100 nhà lãnh đạo kinh doanh kiệt xuất nhất nước Mỹ thế kỷ 20. Trong đó, từng nhân vật được xem xét trong một bối cảnh lịch sử nhất định và nghiên cứu mối quan hệ giữ những sự kiện xảy ra vào thời điểm đó với hoạt động của từng người. Kết quả là, các giáo sư đã xác định được nhân tố then chốt làm nên thành công trong kinh doanh của phần đông các nhà lãnh đạo chính là khả năng phản ứng một cách hiệu quả với thực tiễn.

Maijo đã định nghĩa trí tuệ như là khả năng hiểu được ở tầm vĩ mô các nhân tố xảy ra ở một thời điểm nào đó. Nghĩa là thành công trong kinh doanh và bạc tỷ chỉ đến với những người có khả năng nắm bắt được những xu thế đang nảy sinh và sử dụng được sức mạnh của những thay đổi.

Tự tin hay tin vào chính mình

Trong khi sự tự tin có thể dẫn đến những kết cục buồn thảm thì sự tin tưởng vào sức mạnh nội lực và sự đúng đắn của bản thân lại là một nét khá đặc trưng của tất cả các tỷ phú. Sự tin tưởng này giống như sức mạnh để đạt được mục đích đề ra. Piter Skarzinki, Giám đốc tập đoàn tư vấn Strategos từng khẳng định tất cả các tỷ phú đều có một điểm chung là họ luôn có một niềm tin vững chắc rằng họ đã tìm được phương pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề nào đó.

Ngoài ra, các tỷ phú còn có một phẩm chất khác là sẵn sàng mạo hiểm. Công việc kinh doanh càng phát triển thì tỉ lệ rủi ro càng tăng. Điều này có nghĩa là nhà tỷ phú không được phép sợ hậu quả có thể xảy đến.

Tâm lý giàu có

Tiến sỹ Sedney Lekker, nhà tâm lý nhiều năm làm việc với các nhà kinh doanh và chuyên gia cao cấp từng nghiên cứu phẩm chất của những người giàu và viết nên cuốn sách đắt giá “The Money Personality”. N.Y.: Simon & Schuster. 1979. Trong công trình của mình, ông sử dụng thuật ngữ «money personality», hiểu nôm na là một nhân cách có thể “hút” được tiền về phía mình. Trả lời câu hỏi về việc những nhân cách này có khác người thường không, Lekker khẳng định ngay rằng rất khác, thậm chí hoàn toàn khác. Ông đã đưa ra 7 khả năng khác biệt của những người “đông tiền”. Đó là:

1. Những  người này không sợ cái “to lớn”. Họ không hề ngại phải làm việc với những con số lớn, những dự án lớn, không ngại phải làm việc với những người cao lớn hay một nhân cách lớn.

2. Họ luôn biết cách đặt ra những mục tiêu đơn giản. Họ biết mục đích và sứ mệnh kinh doanh của mình và hoàn toàn không bị sao nhãng bởi những nhiệm vụ không liên quan đến việc phát triển kinh doanh.

3. Tất cả những người này đều có khả năng tư duy hết sức đặc biệt “không phụ thuộc vào trường sinh học”. Nói cách khác, họ không bị lúng túng bởi những tiểu tiết vụn vặt trong quá trình thảo luận và lập kế hoạch. Trong khi những người bình thường nhìn thấy sự lộn xộn hoặc các số liệu phức tạp thì những cá nhân thành đạt trong kinh doanh lại rất nhanh chóng rút ra được những thông tin cần thiết từ mớ bòng bong.

4. Những nhân cách «Money personalities» còn khác với người thường ở khả năng tư duy trừu tượng rất phát triển. Họ có khả năng chỉ dùng tư duy “mường tượng” để lên kế hoạch và điều khiển các công việc liên quan đến xây dựng nhà máy, sản xuất, thậm chí là hoạt động bán hàng.

5. Họ có khả năng thích ứng nhanh với cái trừu tượng và tiến lên phía trước ngay cả khi chưa có đủ thông tin. Nhờ đó, họ thường là những người về đích trước người khác. Từ đây, họ được số đông ngưỡng mộ, tôn trọng và mong muốn được theo họ.

6. Một nét đặc trưng khá quan trọng nữa của những người thành đạt trong kinh doanh là ý thức trách nhiệm cao. Mặc dù họ hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc điều khiển ý chí của người khác, nhưng cũng luôn ý thức được rằng không ai có thể điểu khiển ý thức trách nhiệm. Vì thế, nếu ở đâu đó công việc không được suôn sẻ thì những người này luôn biết rằng đó là công việc và trách nhiệm của họ. Họ không có thói quen đổ lỗi cho người khác.

7. Đặc điểm cuối cùng là họ không bao giờ cảm thấy hối hận vì đã quá say mê đến thành công. Họ luôn hài lòng với ý nghĩ rằng họ là những người kiệt xuất và có quyền sở hữu lượng tài sản “kiệt xuất”, thậm chí là nhiều hơn thế.

Nếu tổng hợp các đặc điểm này lại, chúng ta có thể dựng được chân dung của một người luôn tin vào bản thân và tin vào việc anh ta là người sở hữu xứng đáng đối với tất cả khả năng và sự sung túc do đồng tiền đem lại.

Tự khẳng định lại lần nữa

Nếu bạn vẫn chưa tìm được câu trả lời thì hãy tự hỏi mình một lần nữa. Ví dụ như bạn có khả năng đưa ra những quyết định cứng rắn và phi thường vì sự phát triển trong kinh doanh không? Nếu để làm điều đó bạn có sẵn sàng đi ngược lại với ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp hoặc những người đã cùng chung tay khởi nghiệp với bạn?

Bạn đánh giá sự độc lập của mình cao đến đâu? Bạn sẵn sàng thể hi sinh những gì? Lưu ý rằng,  việc kinh doanh càng phát triển thì lịch công tác và quyết định của bạn càng ngày càng ít phụ thuộc vào bạn. Đấy là chưa kể bạn còn có các các nhà đầu tư, các cổ đông và hội đồng quản trị. Bạn sẽ phải xem xét quyết định của họ.

Bạn đã sẵn sàng xuất hiện trước công chúng? Nếu chỉ nghe nhắc đến đám đông, đầu gối bạn đã run lên thì lúc đó ai sẽ là người giới thiệu công ty bạn tới công chúng? Và ai sẽ là người thay bạn phát biểu trước các cuộc họp tại hội đồng quản trị và trả lời phỏng vấn báo đài?

Và điều cuối cùng, bạn đã chuẩn bị tâm lý cho việc vì lòng say mê lao động, vì thành tích và tài sản của bạn, người ta sẽ không những không kính trọng mà còn nghen ghét, ganh tỵ?

( SEMvietnam – Theo Lanhdao)http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Giám đốc điều hành tuổi 26

Ephren W.Taylor II được tạp chí The Michigan Chronicle bình bầu là một trong 10 người đem lại những thay đổi mang tầm cỡ toàn cầu. Anh là giám đốc điều hành (CEO) người Mỹ gốc Phi trẻ nhất thế giới.

ephren-wtaylor-iiThe Michigan Chronicle là một tạp chí dành cho người Mỹ gốc Phi có trụ sở tại Michigan, Mỹ.

Ở tuổi 26, Ephren W.Taylor II đã là lãnh đạo một công ty chuyên đầu tư vào các dự án kinh doanh mang tính xã hội như dự án nhà ở giá rẻ khu Clevelan và Kansas của các gia đình công nhân. Đồng thời, anh còn kiêm chức giám đốc điều hành của công ty City Capital, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư vào các dự án tái sinh đô thị và khoan dầu.

Công ty anh lãnh đạo có tên City Capital Corporation. Anh được người dẫn chương trình Tom Joyner đặt cho cái tên đầy kính trọng “pho sử sống”, vì chàng trai tài năng này bắt đầu kinh doanh từ năm… 12 tuổi. Bước sang tuổi 17, Ephren W.Taylor II đã gây dựng nên công ty có giá trị nhiều triệu đô la Mỹ.

Biết lập trình từ năm 13 tuổi

Ephren kể: “Mọi sự bắt đầu khi tôi nài nỉ mẹ mua cho một đĩa trò chơi điện tử. Thời ấy, mặc dù đã có hệ thống chơi qua video, nhưng quanh đi quẩn lại tôi cũng chỉ biết chơi trò Super Mario và vài trò Mario khác. Một ngày kia, tôi ngáp dài và xin mẹ mua thêm trò gì đó mới lạ, mẹ lại trả lời thản nhiên như không: “Sao con không tìm cách tự chế ra trò chơi cho mình nhỉ?”.

Tôi mò tới hiệu sách và nhìn thấy cuốn dạy lập trình, sáng tác trò chơi điện tử của tác giả André Lamothe, có tựa đề: “Cách tạo trò chơi điện tử trong vòng 21 ngày”. Giá của cuốn sách là 39 đô la Mỹ.

Tôi bảo mẹ: “Mẹ mua cho con cuốn này đi!”, mà không hề biết rằng để học được theo sách, tôi cần có máy tính, biết một chút cơ sở về lập trình và phải giỏi toán, lý để hiểu được những điều trình bày trong cuốn sách”.

Thế là, ngày ngày, cứ sau giờ học ở trường, Ephren lại chui vào phòng máy tính, giở sách ra và miệt mài đọc rồi thử nghiệm trên màn hình. Anh đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, cho tới khi bắt đầu vỡ vạc ra, thế nào là lập trình.

Ephren đã tạo ra một trò chơi có tên “Clone of Pong” nhạt toẹt, bởi đó là một sự bắt chước vụng về của trò Asteroids. Sau đó, Ephren quyết định nghĩ ra trò chơi dạng 3D, những kiến thức đọc được ở chương cuối của cuốn sách.

Anh mất hai tuần để hoàn thành. Có người nhìn thấy sản phẩm đó và hỏi mua với giá 10 đô la cho một bản copy. Thế là Ephren bắt đầu bán đĩa trò chơi do mình tự làm ra.

Anh khao khát được trở thành một Bill Gates da đen hay Michael Jordan (cầu thủ bóng rổ nổi tiếng thế giới). Trong khi Michael Jordan kiếm được 90 triệu đô la Mỹ, còn Bill Gates có trong tay những 90 tỉ đô la. Ước muốn đó dường như quá xa vời với Ephren lúc bấy giờ.

Tiếp xúc với máy tính để tạo ra trò chơi điện tử, Ephren có dịp bước vào thế giới huyền diệu của Internet. Anh nhận ra rằng, đây là nơi có thể kiếm ra tiền, và lập nên công ty thiết kế trang web.

Lúc đầu, anh lấy có 200 đô la cho một trang web, nhưng không lâu sau, anh nhận thấy cái giá đó quá “bèo” so với các đồng nghiệp. Thế là, Ephren bắt đầu tăng giá. Anh nghiền không biết bao nhiêu sách lập trình để lập trò chơi điện tử và trở thành đối tượng săn tìm trên các diễn đàn mạng.

Ở đó, Ephren đăng ký là một công ty trách nhiệm hữu hạn (để làm được Ephren lại phải mày mò đọc tài liệu về cách lập vốn, điền biểu bảng thuế, vì anh chẳng quen luật sư nào cả), và nghĩ cho phần mềm một cái tên gọi là Flame Software.

Sau khi nhận được 3.800 đô la tiền công, anh nghĩ bụng, “người sử dụng phần mềm đó được hưởng những 800.000 đô la, thế thì tại sao mình không tự sở hữu một công ty nhỉ?”.

16 tuổi trở thành triệu phú

Năm 16 tuổi, Ephren W.Taylor II “bước qua vạch 7 con số” để trở thành triệu phú, khi cùng với bạn tên Michael Stahl lập nên một trang web kết nối các học sinh trung học và đại học muốn tìm việc làm và các công ty cần tuyển nhân lực, mang tên GoFerretGo.com.

Không có sẵn nhiều tiền để quảng cáo và lăng xê trang web, họ quyết định đăng tin trên các tờ báo địa phương, thông báo về việc công ty khai trương. Chẳng bao lâu, có tới 30.000 người tìm tới trang web GoFerretGo.com.

Lúc đầu, hai chàng trai cũng lại quá rộng rãi với khách hàng: họ chỉ đòi giá 38 đô la cho một thông báo tìm việc làm tới khi biết rằng, các đối thủ cạnh tranh như Sprint, Citigroup và Pizza Hut sẵn sàng trả một số tiền gấp cả trăm lần như thế để săn tìm các tài năng trẻ.

Ephren W.Taylor II và Michael Stahl liền thuê văn phòng và thậm chí thuê cả thầy giáo dạy lịch sử ngày trước đến làm việc ở công ty. Tới năm 2001, công ty bị giải thể vì tình trạng khủng hoảng công nghệ, nhưng vào thời kỳ đỉnh cao, định giá của công ty lên tới con số 3,5 triệu đô la.

Ephren W.Taylor II không chỉ là nhà kinh doanh, anh còn là một thuyết trình gia. Anh thường xuyên tới các trường đại học, trường phổ thông và gặp gỡ với các cấp chính quyền địa phương để bàn về các vấn đề liên quan tới cuộc sống thành thị.

Cuốn sách đầu tiên của anh mang tựa đề “Creating Success from the Inside out” là một cuốn sách bán chạy nhất cho các độc giả là các tổng giám đốc.

(Theo Tienphong)http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Sự nghiệp của tỷ phú trẻ nhất thế giới Michael Dell

Michael Dell đã chen được chân vào một ngành công nghiệp “không khoan nhượng” nhất thế giới bằng cách phá bỏ đi những thông lệ kinh doanh máy tính lúc bấy giờ.

michael-dellHiện Dell vẫn tiếp tục theo đuổi những cách thức đó bằng việc tiếp cận những thị trường chưa công ty nào quan tâm đến, giới thiệu nhãn hiệu Marketing thương mại của công ty tới mọi nơi trên thế giới, tích cực bán hàng qua mạng…

Có một thương hiệu mang tên Dell Computer

Dell Computer được thành lập ngày 3/5/1984 với số vốn ban đầu 1.000 USD và một ý tưởng chưa từng có: bán các chương trình trực tiếp cho người tiêu dùng, bỏ qua khâu bán hàng trung gian. Rồi từ người cung cấp máy tính, Công ty Dell chuyển sang sản xuất máy tính.

Ðể nâng cao uy tín, Dell tự tay vẽ mẫu quảng cáo sản phẩm của mình, đó là hình một chiếc hộp có in hai chữ đầu của Công ty Dell, khởi đầu cho một thương hiệu lớn.

Michael sành tâm lý khách hàng mua máy tính là dễ bực bội mỗi khi máy trục trặc. Dell thiết lập ngay một đường dây nóng phục vụ 24/24 giờ, đáp ứng mọi yêu cầu của khách. Ngoài ra hãng còn có một tổ kỹ thuật tập hợp các chuyên gia máy tính lành nghề hướng dẫn khách sử dụng máy tính qua điện thoại. Khi Internet ra đời, Dell cũng nhanh nhạy đưa công ty lên mạng để quảng bá.

Thế nên cái gì đến phải đến: hãng hiện có khoảng 41.800 chi nhánh khắp thế giới và doanh thu năm qua lên tới 38,2 tỉ USD. Dell là nhà cung cấp các dịch vụ và linh kiện máy tính đầu tiên cho các tập đoàn lớn nhất trên thế giới.

Năm 2003, Thời báo Phố Wall bình chọn Dell là một trong số 10 công ty làm ăn có uy tín nhất. Hiện là công ty đứng hàng thứ tư của Mỹ về công nghệ sản xuất máy tính và lọt vào danh sách 500 công ty nhất thế giới theo sự bình chọn của tạp chí kinh doanh Fortune.

Trong 10 năm qua, dù khủng hoảng công nghệ cao nhiều lần xảy ra nhưng Dell vẫn giữ được mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 40%. Riêng trong thập kỷ 90, cổ phiếu của Dell luôn là sự lựa chọn số 1 với mức trả cổ tức tới 97%. Năm 2003, khi tất cả những đối thủ cạnh tranh đang dần mất thị phần, thì thị phần của Dell ở Mỹ tăng 31%.

Thành công từ mô hình kinh doanh trực tiếp

Mô hình kinh doanh trực tiếp của Dell kết hợp nhiều yếu tố nhằm cung cấp những sản phẩm có giá trị tốt nhất cho khách hàng. Đó là những sản phẩm được tùy biến với mức giá thấp, thêm vào đó là hình thức giao hàng nhanh và dịch vụ khách hàng hoàn hảo. Với phương thức hoạt động theo mô hình kinh doanh trực tiếp, tất cả các sản phẩm của Dell cung cấp cho khách hàng đều được sản xuất theo đơn đặt hàng. Cách thức này đã đưa tập đoàn máy tính Dell trở thành nhà sản xuất và phân phối trực tiếp các hệ thống máy tính lớn nhất thế giới.

Một khách hàng có thể gọi điện thoại tới chi nhánh Dell hay truy cập tới www.dell.com để đặt hàng chiếc máy tính với cấu hình mà mình mong muốn. Trong vòng 5 ngày chiếc máy sẽ được giao tận tay khách hàng và cùng một cấu hình đó, mức giá Dell đưa ra thấp hơn 10-15% giá của các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng của Dell được đánh giá là rất hoàn hảo. Kết quả là Dell có thứ hạng vững chắc trong những công ty hàng đầu với sản phẩm tin cậy và dịch vụ hoàn hảo.

Nhờ bán hàng trực tiếp nên Dell không phải trả tiền cho các nhà phân phối trung gian. Do đó giá thấp hơn mức bình quân tới 12% so với các đối thủ. Gần 2/3 lượng sản phẩm của Dell được bán cho các chính phủ, các tập đoàn lớn và các tổ chức giáo dục.

Nhà tiên phong trong mô hình bán hàng trực tiếp hiện đang bán hơn 43 triệu USD giá trị máy tính mỗi ngày từ hơn 80 quốc gia qua những website, mang lại hơn 50% doanh thu trong tổng doanh thu của tập đoàn. Khách hàng mua theo hình thức này rất đa dạng, từ cá nhân cho tới các tổ chức kinh doanh lớn.

Michael Dell đã phát minh ra một mô hình kinh doanh mà cả thế giới muốn học hỏi. Thế nhưng sau nhiều năm, không ai có thể sao chép hoàn toàn mô hình này. Đối với Dell, điều đó chẳng có gì lạ bởi hiếm có hãng nào có đủ điều kiện để sao chép đầy đủ mô hình kinh doanh của mình. Ngay cả khi muốn áp dụng mô hình này, thì các hãng có uy tín cũng không dám mạo hiểm từ bỏ công việc kinh doanh và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm quen thuộc. Mô hình Dell có tác dụng khích lệ nhưng khó sao chép nguyên xi vì nó quá độc đáo.

Bí quyết làm giàu của Michael Dell

Sau khi đạt được điều kỳ diệu đó, Michael Dell đã kết luận triết lý quản lý kinh doanh của mình: “Ðịnh hướng khách hàng, thiết lập một chiến lược rõ ràng để có thể thảo luận, hiểu và thực hiện được. Phân đoạn công việc thành những phần có thể điều khiển được, có tính toán và phân chia trách nhiệm rõ ràng. Ðặt ra các mục tiêu để phấn đấu. Tập trung quan tâm vào hoạt động thực tế, kết quả đạt được và vạch ra quyết định hoạt động từng ngày thay vì chỉ khuyến khích xuông. Và hãy thoải mái vui vẻ.”

Trên thực tế, Michael Dell đã có máu kinh doanh từ khi còn ở trường trung học. Michael giữ chân bán báo dài hạn cho Tạp chí Post ở Houston. Ðể tăng số báo bán, Michael lập danh sách những người mua báo dài hạn vừa lập gia đình cho vào máy tính lưu trữ. Sau đó, Michael gửi “quà cưới” đến nhà các đôi uyên ương đó bằng cách tặng báo biếu nhiều tuần liền. Phần lớn những gia đình đó đều đặt mua báo dài hạn và chỉ với “thương vụ” này, Michael bỏ túi 18.000 USD.

Năm 18 tuổi, vào trường Ðại học Texas ở Austin, Michael vẫn nuôi mộng kinh doanh. Lúc bấy giờ, ở Mỹ máy tính cá nhân đang ở trong tình trạng cung không đủ cầu, những người bán hàng nâng giá vô tội vạ. Michael tìm hiểu, biết hãng IBM thường buộc các đại lý nhận số lượng máy tính lớn hơn khả năng bán, số máy dư này thường được cất vào kho. Michael đến thương lượng với các đại lý mua máy dư với giá rẻ. Mày mò cải tiến vài chi tiết nhỏ trong các máy, Michael đường hoàng đem hàng của mình tung ra thị trường với giá rẻ 15% so với máy tính cùng hiệu năng đang lưu hành trên thị trường. Ðang là sinh viên đại học năm đầu tiên, Michael vừa học vừa làm, kiếm được 50.000 USD mỗi tháng.

Michael quyết định mở cơ sở kinh doanh: công ty Dell ra đời lúc Dell tròn 19 tuổi. Anh thuê một căn phòng nhỏ và một người quản lý phụ giúp tính toán sổ sách, quản lý tiền bạc và cung cấp hàng cho khách. Phương pháp kinh doanh của Dell vẫn theo cách cũ, nghĩa là tái chế máy tính “lỗi thời” của IBM trở thành hàng mang nhãn hiệu Dell rồi giao hàng tận nơi cho người tiêu dùng với giá rẻ.

Michael Dell – tỷ phú trẻ nhất thế giới

Bản thân Michael Dell là tỉ phú trẻ nhất nước Mỹ vào năm 1999 ở tuổi 34 và là một trong sô “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới” do báo Time bình chọn tháng 4/2004. Michael Dell đã xây dựng được một công ty năng động nhất thế giới và ông hiện là chủ sở hữu một tài sản cá nhân vượt quá 17 tỷ USD nhờ việc kinh doanh của mình. Michael Dell đã rất thành công với cách điều hành công ty theo mô hình kinh doanh trực tiếp.

Anh vừa được xếp vào danh sách Top 10 người giàu nhất thế giới. Tạp chí “Forbes” xếp anh ở vị trí số 6, tuy còn kém xa vị trí số 1 của Bill Gates. Còn “Fortune” thì lại tặng cho Michael Dell danh hiệu “người Mỹ giàu nhất ở tuổi dưới 40″, trong khi đó Jeff Bezos – ông chủ tài ba của Amazon – đứng ở vị trí sát nút.

Tài sản của Michael Dell đã tăng lên gấp đôi trong những tháng vừa qua nhờ điểm của tập đoàn tăng ở thị trường chứng khoán, Michael Dell luôn giữ 21% cổ phần trong công ty.

Ngoài đời, Michael không phải là một người sôi nổi, thích phô trương mà ngược lại ông sống khá giản dị, hết lòng với vợ và con. Hình ảnh của Dell in dấu trong trí nhớ nhiều người là một người đàn ông bảnh bao với gương mặt sáng sủa, gọn gàng trong chiếc áo sơ mi là thẳng và thắt caravat.

Trục trặc đầu tiên: Lợi nhuận đang sụt giảm

Cổ phiếu của Dell trong ngày 6/11 trên thị trường chứng khoán Nasdaq của Mỹ sụt giảm xuống còn 29,76USD, tức giảm 6,6% so với mức 31,88 USD trước đó một tuần. Nguyên nhân là do doanh thu quý III của hãng sản xuất máy tính cá nhân lớn nhất thế giới này chỉ đạt 13,9 tỷ USD, thấp hơn chút ít so với dự báo trước đó của công ty là khoảng từ 14,1 – 14,5 tỷ USD.

Vậy là cuối cùng, chính sách máy tính giá rẻ chất lượng đảm bảo của Dell cũng không hoàn toàn miễn nhiễm trước các “đợt ốm” theo chu kỳ của ngành máy tính. Trước đây, trong khi các đối thủ điên đầu vì không bán được hàng thì Dell vẫn đủng đỉnh đút túi hàng tỷ USD từ những chiếc máy tính sản xuất theo phương châm đó, một phương châm hoàn toàn mới lạ và hiệu quả trong ngành này.

Tuy vậy, bước sụt giảm này tỏ ra chỉ là chút khó khăn không đáng kể đối với hãng máy tính Dell cùng ông chủ trẻ tuổi tài ba Michael Dell. Hãng đặt trụ sở tại quê hương của những chàng cao bồi Texas này vẫn chiếm 18% thị phần máy tính cá nhân toàn cầu và giữ vững vị trí số 1 của mình trong lĩnh vực ấy.

Thế nên tới ngày 6/11, tuần báo tài chính Barron của Mỹ nhận định những ngày đẹp nhất của triều đại Dell vẫn đang ở phía trước và họ chỉ cần không nhiều thời gian để vượt qua chút khó khăn trước mắt. “Doanh thu và lợi nhuận của Dell không đạt mong đợi chỉ là bước lùi ngắn để họ tạo ra bước đột phá mới sắp tới”, tờ báo này nhận định.

(SEMvietnam – Theo Vietnamnet)http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Bí quyết làm giàu của “ông trùm” hộp giấy carton – Richard Pratt

Nhắc đến cái tên Richard Pratt, ngay lập tức người ta nghĩ ngay đến một doanh nhân nổi tiếng, thành đạt vào hàng top ở Australia và khu vực châu Đại Dương. Số tài sản lên đến hàng tỷ USD của Richard Pratt được nhân lên nhờ những hộp giấy carton có vẻ không có mấy giá trị

Vậy đâu là bí quyết để Richard Pratt biến đống giấy lộn thành “mỏ vàng” của chính mình?

richatNgay từ đầu có thể khẳng định, chính cuộc đời nhiều thăng trầm từ rất nhỏ đã tôi luyện bản lĩnh và ý chí làm giàu của Richard Pratt. Là một doanh nhân thành đạt của Australia nhưng ít người biết được rằng Richard Pratt là người gốc Do Thái. Ông sinh ngày 12/3/1934 tại thành phố Gdansk của Ba Lan. Năm Richard Pratt tròn 4 tuổi để đưa gia đình thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn thời điểm đó, bố của Richard Pratt – ông Leon đã đưa gia đình sang thành phố Shepparton, Australia định cư và đây cũng là thời điểm cậu bé Przecicki được đổi tên thành Pratt.Lập nghiệp trên đất nước hoàn toàn xa lạ, bố của Richard Pratt đã từng làm rất nhiều nghề để có được những đồng tiền cho gia đình và bản thân Richard Pratt ăn học.

Sinh trưởng trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ngay từ khi còn nhỏ, Richard Pratt đã sớm phải cùng cha gánh vác các công việc của gia đình. Do đó, ý thức quyết tâm vươn lên trong cuộc sống luôn thúc giục Richard Pratt phấn đấu học tập từ khi ông còn ngồi trên ghế nhà trường.

Bỏ lại sau lưng những khó khăn của cuộc sống, Richard Pratt dành hầu hết tâm trí cho công việc học tập của mình và luôn đạt kết quả tốt. Ngoài thời gian học tập, để có thể phần nào giúp đỡ gia đình, Richard Pratt còn cùng gia đình thu mua giấy vụn, chế biến và làm thành những thùng giấy cứng cung cấp cho những hộ gia đình trồng hoa quả và rau trong vùng.

Sau khi học xong chương trình tiểu học tại trường Grahamvale Primary School, Richard Pratt đã thi vào học tại trường Shepparton High School tại thành phố Shepparton và tiếp theo khoa Thương mại của trường University of Melbourne và tốt nghiệp năm 1953. Khi còn là sinh viên, Richard đã bộc lộ rõ tố chất thông minh trong học tập, chịu khó trong công việc.

Là người có cá tính mạnh mẽ không ngại khó khăn, sau khi tốt nghiệp đại học, Richard Pratt đã quyết định xin vào làm nhân viên tại Công ty Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll. Trong thời gian làm việc tại đây, Richard Pratt đã có cơ hội làm việc tại các trung tâm công nghiệp lớn như London của Anh, New York của Mỹ. Công việc rất vất vả tại Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll đã giúp Richard Pratt học hỏi rất nhiều kinh nghiệm sống cũng như kiến thức thực tế về lĩnh vực kinh doanh.
Sau này, chính Richard đã cho rằng những năm tháng miệt mài học hành này đã đem lại thành công của ông hôm nay. Theo Richard, ý tưởng sáng tạo, môi trường kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu. Ông quan niệm rằng một nền tảng học vấn tốt về kinh doanh, cộng với những kinh nghiệm cuộc sống có được từ thực tế hoặc đi tình nguyện là một sự khởi đầu tuyệt hảo cho những thành công nối tiếp.

Sự thành đạt và giàu có của Richard Pratt có thể được xem là điển hình của việc “cha truyền con nối”. Thừa hưởng tư duy tài chính sắc sảo của mẹ và kỹ năng kinh doanh chiến lược của cha, Richard Pratt trở thành đại gia ngành giấy và là một trong 3 người giàu nhất Australia một cách “ngoạn mục”.

Bố của Richard, ông Leon vốn là một người có đầu óc kinh doanh, được sự hỗ trợ của vợ đã từ hoạt động buôn bán nhỏ lẻ đơn thuần đã thành lập hãng Visy Board chuyên cung cấp cho thị trường các loại đồ hộp làm từ giấy do nhận thấy thị trường ngày càng cần mặt hàng này. Năm 1969, ông Leon qua đời và cậu con trai Richard Partt đương nhiên trở thành người kế nghiệp.

Và quả thực, Richard đã khẳng định mình là người thừa kế xuất sắc và hoàn toàn xứng đáng. Từ một công ty Visy Board nhỏ bé chuyên tái chế và cung cấp hộp giấy carton, sau hơn 30 năm điều hành, bằng những sản phẩm giấy hộp carton cải tiến dành cho các sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao, Richard Pratt đã xây dựng thành công Tập đoàn công nghiệp giấy Visy Industries vươn tầm ra khu vực và thế giới với tổng thu nhập hàng năm lên tới 2,5 tỷ USD, hơn 8.000 nhân viên và hàng trăm chi nhánh tại các quốc gia khác nhau. Cùng với đó, Richard Pratt cũng đã tạo dựng được cho riêng mình khối tài sản cá nhân lên tới 2,3 tỷ USD, đứng trong Top 3 người có số tài sản lớn nhất Australia.

Tuy nhiên, thành quả này không phải dễ dàng mà Richard có được. Đã từng có kinh nghiệm hoạt động trong môi trường kinh doanh thực tế tại Ray Lawler’s Summer of the Seventeenth Doll, sau khi tiếp quản Visy Board, Richard Pratt đã nhanh chóng nắm bắt được các hoạt động của công ty. Ngoài nhu cầu ngày càng cao của thị trường, mẫu mã và hình dáng các sản phẩm hộp giấy carton ngày càng đòi hỏi phải có hình thức và mẫu mã đẹp. Riachard tự nhận mình là nhà sáng tạo đầy tài năng, ông say mê các ý tưởng, dám đương đầu với thách thức. Và đó là bí quyết để Richard có được những bước đi táo bạo khi mở rộng và phát triển công việc kinh doanh của mình.

Do đó, bước đầu tiên Richard Pratt tiến hành chính là nghiên cứu cải tiến dây chuyền sản xuất hộp giấy của công ty. Ông đã huy động vốn của Visy và các khoản đóng góp của các đối tác khác để thực hiện dự định này. Bằng nỗ lực không biết mệt mỏi của mình, cuối cùng, Visy Board cũng có được một dây chuyền sản xuất giấy đóng hộp tiên tiến và vươn lên vị trí một trong những nhà sản xuất và cung cấp hộp giấy carton hàng đầu Australia.

Trong những năm 70, bình quân mỗi năm Visy Board sản xuất được 100.000 tấn hộp giấy. Tới năm 1979, công ty đã xây dựng được nhà máy tái chế giấy quy mô lớn tại Warwick Farm, chính nhà máy này đã trở thành bàn đạp trọng yếu của Richard Pratt trong chiến lược tiến ra chiếm lĩnh các thị trường quốc tế.

Có chỗ đứng vững chắc tại thị trường trong nước, Richard Pratt ngay lập tức đưa ra chương trình hướng tới thị trường trong và ngoài khu vực. Trong giai đoạn thập niên 80 và 90, tại hầu hết các quốc gia phát triển, các ngành công nghiệp phát triển rất mạnh, đặc biệt là Anh, Mỹ… Do đó, đích mà Richard Pratt hướng tới không đâu khác chính là những thị trường đầy tiềm năng này. Richard Pratt đã hầu như dồn hết nguồn tài chính có được tại thị trường nội địa vào thiết lập ngay những chi nhánh tại Mỹ để tận dụng được nguồn nhân công dồi dào và lượng giấy phế thải tại chỗ. Tại các chi nhánh, Richard Pratt đã đưa vào áp dụng quy trình đa dạng các loại sản phẩm giấy carton loại dày có tính năng ưu việt vừa bền vừa có mẫu mã đẹp, đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh, đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường. Nhờ đó, Visy Board không chỉ thiết lập được một mạng lưới các nhà máy tại Staten Island, New York, Coolaroo, Victoria, New South Wales Mỹ mà còn mở rộng được các chi nhánh sang cả thị trường New Zealand và Papua New Guinea.

Ngoài các sản phẩm hộp giấy carton công nghiệp truyền thống, Richard Pratt còn tiến hành hàng loạt các chương trình đầu tư vào các ngành công nghiệp xử lý và cung cấp nước sinh hoạt. Dựa trên nguồn vốn hùng mạnh của Visy Industries, Richard Pratt đã thiết lập một hệ thống các nhà máy sơ chế các loại nước thải của các thành phố sau đó phân loại xử lý thành nước sạch dành cho sinh hoạt và cung cấp cho người sử dụng.

Bằng các khoản đầu tư lớn này, Visy Industries cũng nhanh chóng vươn lên vị trí một trong những nhà cung cấp nước sạch hàng đầu ở Australia. Richard Pratt cũng đã trở thành một trong những nhà cải cách về tiêu chuẩn nước sinh hoạt, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng vào chính sách phát triển nguồn nước sạch tại Australia.

Rất đam mê kinh doanh nhưng dường như được thừa hưởng lòng nhân ái của người mẹ, ông luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội của mình.

Trong nhiều năm hoạt động trên thương trường, ngoài những chương trình kinh doanh của cá nhân mình, Richard Pratt còn được mọi người biết tới với nhiều hoạt động vì cộng đồng và đóng góp cho xã hội. Richard Pratt đã từng được giao nhiều trọng trách quan trọng như Hiệu trưởng danh dự của trường Swinburne University of Technology; Chủ tịch của Trung tâm khoa học Victorian Arts Centre Trust; Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Mental Health Research Institute of Victoria…Tháng 7/2007, Richard Pratt đã được bầu làm Chủ tịch CLB bóng đá giàu truyền thống của Australia, Carlton Football Club.

Đặc biệt, Richard Pratt và gia đình cũng đã tự thành lập quỹ từ thiện Pratt Foundation nhằm đẩy mạnh các hoạt dộng giúp đỡ người nghèo và các hoạt động từ thiện vì cộng đồng.

Với tài năng, uy tín và những đóng góp cho xã hội, Richard Pratt đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng lớn như giải thưởng Environmental Visionary năm 1998 sau chiến dịch Keep Australia Beautiful Campaign; huân chương danh dự Order of Australia – huân chương danh giá nhất của Australia – năm 1985 và 1998.

( SEMvietnam – Theo Nguoilanhdao)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

George Soros – kẻ khuynh đảo thị trường tài chính thế giới

Chỉ vài tháng trước khi kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, tỷ phú Soros nhận định, hệ thống tài chính đang ở trong tình trạng “siêu bong bong” và chỉ chờ ngày vỡ.

sorosgeorgeTrong cuốn sách mang tên “Mô hình mới của thị trường tài chính” (tạm dịch từ The new paradigm for financial markets), Soros mô tả hiện tượng “siêu bong bong” trên thị trường tài chính đã hình thành trong suốt 25 năm qua và chỉ ngày vỡ. Đây là cuốn thứ ba trong một series sách của Soros đề cập đến thảm họa đối với thị trường tài chính. Trong đó, tỷ phú đầu cơ viết một cách ẩn dụ: “Tôi đã đếm số lần sói tru. Lần đầu tiên là trong cuốn ‘Thuật giả kim của thị trường tài chính’, lần thứ hai là cuốn ‘Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu’ và lần thứ ba là trong cuốn sách này. Sau 3 lần sói tru, con sói thực sự sẽ đến”.

Tỷ phú cũng nhận định, hiện chưa có triển vọng về việc tìm ra giải pháp trong ngắn hạn cho cuộc khủng hoảng tài chính. Soros cũng là người công khai phản đối mạnh mẽ nhất kế hoạch của cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các định chế tài chính.

Sự nghiệp của Soros có nhiều mảng tối, trong đó có những lần bị phạt vì đầu cơ tiền tệ hoặc bị cáo buộc về giao dịch nội gián. Năm 1988, Soros nhận được lời đề nghị tham gia nắm giữ ngân hàng khổng lồ của Pháp Société Générale. Soros từ chối, nhưng sau đó mua một lượng cổ phần của ngân hàng này trước khi thông tin về việc chuyển nhượng ngân hàng được công bố rộng rãi. Một năm sau, giới chức Pháp bắt đầu điều tra về vụ việc và đến năm 2002, một tòa án nước này kết luận hành vi của Soros là giao dịch nội gián và tuyên phạt vị tỷ phú 2,3 triệu USD, bằng đúng số tiền Soros kiếm được từ vụ mua cổ phần của Société Générale. Soros phủ nhận và nói rằng thông tin về vụ chuyển nhượng đã được công bố rộng rãi.

Mới đây, quỹ đầu tư Soros Management Fund bị cơ quan quản lý Hungary, nơi Soros sinnh trưởng, phạt 2 triệu USD vì thực hiện kế hoạch đầu cơ tấn công đồng nội tệ của nước này.

Song tên tuổi của Soros được biết đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới qua vụ đầu cơ đồng bảng Anh vào năm 1992. Vào ngày Thứ tư Đen tối 16/9/1992, Soros đột nhiên trở nên nổi tiếng khi bán khống lượng bảng Anh có giá trị tương đương trên 10 tỷ USD, và kiếm lợi từ việc Ngân hàng Trung ương Anh do dự lựa chọn hoặc nâng lãi suất nội tệ lên ngang bằng với lãi suất tại các nền kinh tế khác trong Tổ chức sử dụng chung cơ chế tỷ giá châu Âu, hoặc thả nổi đồng nội tệ.

Cuối cùng, Ngân hàng Trung ương Anh buộc phải rút đồng bảng Anh ra khỏi cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu và phá giá đồng bảng. Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ này và được biết đến với biệt danh “kẻ phá hoại ngân hàng trung ương Anh”. Những người thân cận của Soros có lần tiết lộ, khi thấy những điểm yếu của đồng bảng trong thời điểm đó, Soros đã hối thúc những người dưới quyền tận dụng lợi thế của mình chuẩn bị cho cuộc “tấn công” vào đồng tiền này.

Năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Soros một lần nữa “đánh” đồng tiền của các quốc gia, trong đó khu vực Đông Nam Á rơi vào tầm ngắm. Quỹ đầu cơ của Soros bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để hưởng lợi trực tiếp từ chiến lược đầu cơ vào đồng tiền đó. Soros phản bác các cáo buộc và nói rằng quỹ của ông đơn thuần kiếm lợi từ chính những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới mà ai cũng biết. Chiến lược đầu tư của quỹ này được dựa trên phân tích về các xu hướng kinh tế vĩ mô đang diễn ra hoặc được nhận định sớm diễn ra tại một số nước.

Cách nhìn của giới đầu tư quốc tế cũng như lãnh đạo các nền kinh tế về Soros không đồng nhất, bởi với nhiều người, Soros như một tội đồ vì đã “đánh” các đồng tiền để kiếm lợi. Song người ta đều nhìn nhận Soros là một nhà đầu tư huyền thoại, với những nhận định xác đáng về sức khỏe nền tài chính thế giới. Cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) Paul Volcker từng nói: “George Soros đã tạo nên dấu ấn trên thị trường tài chính với tư cách một nhà đầu cơ đại tài, đủ khôn ngoan để rút lui ngay cả khi trò chơi vẫn ở phía trước. Lợi nhuận khổng lồ ông kiếm được hiện được sử dụng để thúc đẩy thay đổi tại những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi”.
Sinh trưởng trong một gia đình người Hungary gốc Do Thái, George Soros di cư sang Mỹ từ những năm 1950. Cha của ông, Tivadar Soros, là một nhà văn có tiếng tại Hungary. Trước khi sang Mỹ, Soros từng sống tại nhiều nước châu Âu và học Triết học.

Đặt chân tới Mỹ năm 1956, Soros khởi nghiệp từ vị trí nhân viên môi giới tại hãng tài chính F.M. Mayer và là nhà phân tích cho Wertheim and Company cho tới giữa những năm 1960. Trong thời gian này, Soros nghiên cứu một triết lý đầu tư của riêng mình có tên “reflexibity” (tạm dịch: cơ chế phản xạ), với quan điểm cách định giá thị trường của chính những người tham gia thị trường sẽ tác động tới giá trị đã được xác định trên cơ sở sổ sách. Đây về sau trở thành nguyên lý cơ bản của hoạt động của các quỹ đầu cơ do Soros điều hành.

Năm 1973, Soros từ bỏ vị trí phó chủ tịch một tập đoàn đầu tư tại New York và lập hãng đầu tư riêng,về sau hãng này chuyển đổi thành Quỹ Quantum. Ông tuyên bố muốn kiếm đủ tiền từ thị trường tài chính để hỗ trợ sự nghiệp viết sách và nghiên cứu triết học của mình, và dự kiến mỗi năm kiếm được 500.000 USD là chấp nhận được. Nhưng hoạt động đầu tư của Soros sau này chủ yếu được gắn liền với Soros Fund Management.

Với lượng tài sản trị giá khoảng 11 tỷ USD, Soros hiện là người giàu thứ 29 tại Mỹ theo bảng xếp hạng của Forbes, với hoạt động trong nhiều lĩnh vực, từ đầu tư chứng khoán, đầu cơ ngoại hối, kinh doanh. Vị tỷ phú này cũng là một nhà hoạt động xã hội và nhà hoạt động chính trị.

Hiện tỷ phú 79 tuổi này nắm giữ Soros Management Fund, Viện xã hội mở, và từng là một thành viên của Ban lãnh đạo của Hội đồng quan hệ quốc tế của Mỹ. Với 2 người vợ, và cả 2 đều đã ly dị, Soros có 5 người con.

Ông cũng là người tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Từ những năm 1970 đến nay, Soros liên tục đóng góp cho các quỹ hỗ trợ sinh viên người da màu học đại học, đặc biệt tại Nam Phi. Tạp chí Time ước tính, tổng số tiền Soros đã chi cho các chương trình xã hội tại Mỹ, châu Phi và Nga vào khoảng 6 tỷ USD.

George Soros cũng được biết đến với những phát ngôn gây chấn động, đặc biệt đối với chính quyền của cựu tổng thống Mỹ Georrge Bush. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post năm 2003, Soros tuyên bố việc đánh bật ông Bush ra khỏi vị trí tổng thống là “tâm điểm của cuộc đời tôi” và đây là một “vấn đề sinh tử”. Vị tỷ phú này còn nói sẽ sẵn sàng đánh đổi cả gia sản của mình cho mục tiêu này.

Soros đã thực hiện đúng như tuyên bố này, khi năm 2004, ông là một trong những người đóng góp lớn nhất cho các đối thủ của ông Bush trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Thống kê của Trung tâm phản ứng chính trị Mỹ cho thấy, Soros đã đóng góp tổng cộng 23,5 triệu USD cho trên 500 tổ chức nhằm vận động cho việc đánh bại ông Bush. Song ông Bush vẫn tái đắc cử và có nhiệm kỳ thứ hai.

(SEMvietnam – Theo Vnexpress)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png