Bạn đã sẵn sàng trở thành doanh nhân thành đạt?

Bạn đã bao giờ thử quan sát những doanh nhân thành công tại nơi làm việc. Đó là Bill Gates, chủ tịch tập đoàn Microsoft hay Ron Perelman, chủ hãng Revlon…

Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều người không đạt tới đỉnh cao này dù cho họ có là những ngôi sao sáng chói khi học đại học. Họ than vãn về các hoá đơn đến hạn phải thanh toán trong khi có những người khác đếm tiền không xuể. Dĩ nhiên, may mắn có vai trò trong sự thành bại nhưng thường thì lỗi do chính họ gây ra qua tác phong hoặc tinh thần chủ bại.

Seko Hitoshi, chuyên gia kinh tế của tạp chí Tokyo Times, sau thời gian dài nghiên cứu và tìm hiểu về các doanh nhân thành đạt trên thế giới đã rút ra câu trả lời cho những ai muốn mình sẽ nổi tiếng trên thương trường. Theo Seko Hitoshi, để trở thành một doanh nhân thành đạt hay không, bạn cần những sự sẵn sàng sau đây:

Sẵn sàng suy nghĩ và hy vọng

Một doanh nhân thành đạt cần có ý thức tự giác kỷ luật rất cao và đầu tư cá nhân lớn. Đầu tiên, những doanh nhân thành đạt thường tốn nhiều thời gian để suy tư một mình. Ngay cả khi phải kinh doanh trong một môi trường nào, họ vẫn tìm thấy sự tĩnh mịch trong suy nghĩ bằng cách gạt bỏ hết tất cả những thứ làm rối trí xung quanh. Thứ hai, những doanh nhân thành đạt thường đặt mình vào trong những hoàn cảnh mới. Đối với nhiều người thì ý tưởng dời chuyển đến một thành phố mới, nhận một công việc mới, hay đi trên một con đường chưa in dấu chân người đi thật là kinh khủng, nhưng những doanh nhân thành đạt lại sẵn sàng nhận lấy những việc mạo hiểm ấy. Thứ ba, những doanh nhân thành đạt thường chịu sự phản bác không đồng tình của bạn bè. Nếu có dịp đọc tiểu sử của một trong những người thành đạt, bạn sẽ thấy hầu hết những người này đều bị hiểu sai, thường thì những người thân cận họ nhất cũng không thể ngờ tới tương lai thành công của họ sau này.

Sẵn sàng hành động

Sự thôi thúc sáng tạo, hành động, vươn lên học hỏi kinh nghiệm mới cũng giống như một chiếc lò xo bị dồn nén bên trong những doanh nhân thành đạt, sẵn sàng bung ra bất cứ lúc nào.

Sẵn sàng lựa chọn mục tiêu mà mình theo đuổi

Vấn đề then chốt đối với những doanh nhân thành đạt không bao giờ là “Bạn đã làm những gì?” mà là “Bạn đã là người như thế nào?”. Tiêu chuẩn thực để đánh giá chính là những gì mà họ coi trọng trong hoạt động kinh doanh. Liệu trước những món lợi khổng lồ họ sẽ lựa chọn như thế nào giữa lòng tự trọng, lòng tự hào về những thành quả đạt được dựa trên mồ hôi công sức với những mưu tính, gian lận? Đường đi của những doanh nhân thành đạt luôn luôn gập ghềnh hiểm trở và trong những lúc khó khăn ấy họ cần nhiều thứ hơn là chỉ những động cơ thúc đẩy cụ thể giúp họ tiếp tục bước đi.

Sẵn sàng đầu tư những gì mình có

Sự thành đạt trên thương trường đòi hỏi một khối lượng lớn sức lực, thời gian và nhiều gắn bó với công việc. Câu trả lời là các doanh nhân phải sẵn sàng đầu tư bất cứ những gì mà yêu cầu thành đạt đòi hỏi.

Sẵn sàng chịu đựng

Những vấn đề khó khăn trên thương trường dường như đổ lên đầu những doanh nhân có chí hướng thành đạt. Họ phải học hỏi cách chịu đựng bất cứ khó khăn gì gặp phải và biến chúng thành cơ hội kinh doanh mới. Khi kinh doanh gặp lúc khó khăn, chỉ có những người “bản lĩnh kém” mới kêu ca còn những doanh nhân thành đạt thì vươn lên, vượt qua và tiếp tục bước đi

Sẵn sàng gánh trách nhiệm

Những doanh nhân thành đạt không mất thời gian ngồi than phiền về những công việc có tính chất bắt buộc, ít thời gian nghỉ phép, hay phúc lợi và lương thấp. Họ chỉ tập trung thực hiện công việc hiệu quả hơn cho ông chủ của họ hay thậm chí là làm sao có thể bắt đầu tốt công việc kinh doanh của riêng họ và đảm nhiệm nhiều trọng trách và trách nhiệm hơn. Sự thành đạt và trách nhiệm luôn luôn đi đôi với nhau.

Sẵn sàng bắt đầu với những gì mình đang có

Có một câu châm ngôn phương Đông nói rằng “Một chuyến đi vạn dặm bắt đầu từ một bước chân”. Giấc mộng thành đạt cao trong kinh doanh có thể thành sự thực chỉ khi nào bạn hăng hái bắt đầu từ những bước nhỏ đầu tiên để thực hiện giấc mộng bay cao. Hãy bắt đầu làm những gì bạn có thể và rồi vươn đến những việc mà bạn chưa thể làm bây giờ.

Sẵn sàng suy nghĩ đến chính bản thân

Không có gì thay thế được lòng trung thực và tính cần mẫn trong công việc kinh doanh. Tuy nhiên, một điều quan trọng không kém là phải đạt sự bình quân trong suy nghĩ và hành động. Nếu một doanh nhân biết lo nghĩ cho chính bản thân hơn là nhờ người khác nghĩ giùm thì họ sẽ đạt được yêu cầu để trở thành doanh nhân thành đạt.

Sẵn sàng vươn lên cao hơn nữa

Nhiều doanh nhân một thời thành đạt nay thất bại là do họ không muốn vươn cao lên nữa để gặt hái nhiều hơn những gì họ đã đạt được mà đơn thuần trở thành “những người giữ của”. Người mà sớm thành đạt khi còn qúa trẻ nhưng lại ôm lấy những thành tựu ấy trong những năm còn lại của cuộc đời thì phải bị xem như là thất bại. Bill Gates đã từng nói: “Bạn có thể tận hưởng sự thoải mái tột cùng khi bạn đã đạt đến đỉnh cao thành đạt nếu bạn muốn. Vấn đề còn lại là liệu bạn có muốn hay không?”.

Liệu bạn có sẵn sàng trở thành một doanh nhân thành đạt? Bạn hãy đọc và thử kiểm nghiệm lại xem mình đã đủ các yếu tố trên chưa. Để có được kết quả tốt nhất, bạn hãy trả lời bằng sự chân thật từ đáy lòng.

( SEMvietnam – Theo Tạp chí Tokyo Times/bwportal )

Những cách nhận dạng khả năng lãnh đạo thiên bẩm

Cần trao quyền lãnh đạo cho những người có khả năng thiên bẩm. Trước khi làm việc này, bạn cần tìm hiểu về họ.

Trong hầu hết các công ty, nghi thức trang trọng là một vấn đề cốt yếu của người có tầm ảnh hưởng lớn, điều này thật dễ nhận biết vì người đứng đầu thường như thế.

Trái ngược với những người có tư chất lãnh đạo tự nhiên, họ không xuất hiện trong một bộ máy tổ chức có sẵn. Để tìm thấy họ, cần phải biết những đặc điểm sau:

-    Lời khuyên chỉ dẫn của ai được theo dõi hầu hết chủ đề đặc biệt?

-    Người có phản ứng nhanh hầu hết câu hỏi của người chất vấn không?

-    Người có thường làm quan tòa hầu hết các cuộc phân xử không?

-    Người có luôn vượt qua những ranh giới của những đồng sự không?

-    Những đánh giá của ai có giá trị nhất kể cả bên trong và bên ngoài?

-    Ai được nhận hầu hết tiếng tăm tốt từ khách hàng?

-    Ai có mối quan hệ dày đặc nhất đối với những nhân viên khác?

-    Ý kiến của ai gây tranh cãi nhất bên ngoài công ty?

-    Ai là người chứng tỏ được khả năng kiên định thực sự của vai trò lãnh đạo?

-    Ai là người có khả năng thẩm định sự thật để đưa ra quyết định cuối cùng?

( SEMvietnam – Theo W.J )

Thế giới đã chạm đáy khủng hoảng

Trong cuộc họp G7 tại Washington, các nhà lãnh đạo của thế giới đều nhận định thời kỳ tồi tệ nhất của cơn suy thoái đã qua. Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu nào của sự phục hồi.

Các bộ trưởng tài chính từ 7 quốc gia kinh tế phát triển nhất đã nhóm họp hôm qua để tìm ra con đường vượt qua cơn bão tài chính toàn cầu. Tin tốt với thế giới là giai đoạn xấu nhất đã qua. Sau phiên họp, các bộ trưởng tài chính và lãnh đạo ngân hàng cho biết các hoạt động kinh tế có thể sẽ dần ổn định từ cuối năm nay.

Bộ trưởng Tài chính Đức Jorg Asmussen (ngoài cùng bên trái), Thống đốc Ngân hàng Pháp Christian Noyer (thứ ba từ trái qua), Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde (thứ tư từ trái qua) trong cuộc họp G7 diễn ra hôm qua tại Văn phòng của Bộ Tài chính Mỹ tại Washington.

Tuy nhiên, nhiều người nhận định triển vọng vẫn còn khá u ám và có khả năng mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn. Bộ trưởng tài chính Mỹ tuyên bố: “Nếu lạc quan rằng kinh tế thế giới sắp đi lên là không đúng”. Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản, ông Kaoru Yosano nói cho đến nay thời điểm phục hồi vẫn còn là một dấu hỏi.

Những nhận định lần này ít nghiêm trọng hơn Hội nghị thượng đỉnh lần trước hồi tháng 2. Khi đó, các nhà lãnh đạo thế giới lo ngại rằng cơn suy thoái có thể diễn ra hết 2009 và không ai đề cập đến câu hỏi về sự phục hồi.

khunghoang

Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế Dominique Strauss-Kahn đang thảo luận với Bộ trưởng Tài chính Pháp Christine Lagarde trước thềm cuộc họp.

Trong cuộc họp hôm qua, thông cáo viết: “Những số liệu thống kê gần đây cho thấy tốc độ đi xuống của kinh tế toàn cầu đã chậm lại, một vài dấu hiệu le lói khả năng ổn định tăng trưởng trong tương lai”. “Chúng ta sẽ tiếp tục hành động để duy trì các khoản vay, ổn định tính thanh khoản, hỗ trợ nguồn vốn cho các định chế tài chính, bảo vệ tài khoản tiền gửi trong ngân hàng. Chúng tôi tái khẳng định lòng quyết tâm của khối G7 trong việc bảo đảm hoạt động vững chãi của các tổ chức tài chính quan trọng”, tuyên bố viết.

Nhóm 7 quốc gia phát triển nhất bao gồm Mỹ, Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy và Nhật Bản. Cuộc họp của nhóm G7 diễn ra một ngày trước khi hai định chế lớn Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế gặp gỡ trong cuộc họp diễn ra hai năm một lần.

Áp lực đang ngày càng lớn trên vai nhóm G7 trong việc giúp hệ thống ngân hàng thoát khỏi những tài sản độc hại. Khối tài sản này đang kìm hãm hoạt động cho vay của các ngân hàng và là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế toàn cầu rơi xuống vực sâu nhất kể từ Cơn Đại Suy thoái.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính tổng thiệt hại của các tổ chức tài chính khắp thế giới có thể lên đến 4 nghìn tỷ USD. IMF cho rằng các quốc gia giàu nhất trên thế giới phải ưu tiên giải quyết vấn đề của khu vực tài chính trước vì kinh tế thế giới không thế phục hồi nếu nguồn tín dụng không tiếp tục chảy trên thị trường.

( SEMvietnam – Theo VnExpress/Reuters)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Những ” con chim kền kền” của thời khủng hoảng kinh tế

(Nguoilanhdao) – Các nhà đầu tư chuyên đi săn tìm các công ty sắp phá sản để mua lại với giá hời trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng còn có biệt danh là “những con chim kền kền”.

Thời điểm tháng 11 năm ngoái, nhà đầu tư tỷ phú Warren Buffett đã bày tỏ những ý kiến khiến các nhà đầu tư Mỹ lo ngại: “Tham lam khi người khác sợ hãi”.

Nhiều nhà đầu tư cơ hội khác có tiền mặt cũng giống như câu châm ngôn trên, tập trung đầu tư và tìm kiếm những miếng mồi béo bở trong hoàn cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, xáo trộn.

Nhà đầu tư đồng thời là nhà hoạt động xã hội, tỷ phú Mỹ Carl Icahn người chủ sở hữu của nhiều công ty có giá hấp dẫn, kinh doanh trong ngành công nghiệp luyện kim, bất động sản và giờ đây chuyển sang lĩnh vực giải trí và trò chơi. Ông ta đã đề nghị mua 325 triệu USD món nợ của một xưởng sản xuất quần áo cho rạp phim có tên Lions Gate Entertainment, sau khi đã mua 4,5% cổ phần của hãng này hồi đầu năm nay.

Mặc dù có thái độ đề phòng song hãng Lions Gate khó chống lại tham vọng của Icahn. Những nhà tài chính cũng muốn than gia một phần nói rằng những kế hoạch đấu giá một số khu vực giải trí như Tropicana Casino và Resort tại Atlantic City, N.J. đang trong nguy cơ phá sản và sẽ là cơ hội để họ sẽ hành động trong vài tuần tới.

Đối với trường hợp của nhà đầu tư tỷ phú nổi tiếng “trục lợi” Wilbur Ross. Mặc dù đã mất 500 triệu USD trong 6 tháng trước vì thị trường biến động mạnh, nhưng ông hiện đang tập trung kế hoạch thâu tóm hàng loạt công ty có nguy cơ phá sản.

Vào tháng Giêng năm nay, Wilbur Ross đã chi 7,3 triệu USD để mua lại quyền điều hành tại ngân hàng tại Florida tên là First Bank & Trust, cuối tháng 9 năm ngoái, ông tiếp tục đầu tư 80 triệu USD vào một hãng hàng không giá rẻ SpiceJet.

Với xu hướng săn tìm những công ty đang suy yếu, Ross cũng không ngần ngại bày tỏ quan điểm với giới truyền thông rằng những “con mồi” chủ chốt của ông là các công ty trong lĩnh vực dịch vụ tài chính.

Trùm tư bản kinh doanh khách sạn Mohamed bin Issa Al Jaber đã tâm sự về việc ông đã giành được 12 trong số những khách sạn Starwood, chuỗi khách sạn sang trọng bậc nhất tại Pháp với số tiền khoảng 2,6 tỷ USD.

Đề xuất của Al Jaber được công bố hồi tháng 10 năm ngoái. Những khách sạn mà ông mới mua được được gộp vào chuỗi khách sạn lâu đời và sang trọng nhất Paris’ Hôtel de Crillon như chiến lợi phẩm mà ông thu được.

Al Jaber dự đoán rằng, ông đang sở hữu chuỗi khách sạn lâu đời nhất và nó sẽ sinh lời lớn trong tương lai.

Một tên tuổi lớn trong những “thợ săn” các món hời trên là trùm buôn bán tạp phẩm John Catsimatidis. Ông chính là người đã cố gắng cải tổ lại công ty năng lượng phá sản tên là SemGroup.

Nhà đầu tư Gerald Ford cũng là một trong những người mua được món lợi lớn giá rẻ là ngân hàng đang xuống dốc.

Ngoài ra là trùm tư bản, tài phiệt người Nga Mikhail Prokhorov. Ông là người mua lại phần lớn cổ phần tại một ngân hàng đầu tư Renaissance Capital đang bên bờ vực phá sản với giá 5 tỷ USD tiền mặt.

Chấp nhận đặt cược lớn trong khoảng thời gian biến động đã giúp những nhà đầu tư “cơ hội” này thu lãi hàng tỷ USD. Những tỷ phú trục lợi thường được nhắc đến nhiều nhất là Icahn, Buffett và nhà đầu tư tiên phong George Soros. Vào năm 1992, sự nổi tiếng của Soros là dự đoán về sự biến động của đồng bảng Anh và ông đã kiếm cho mình 1 tỷ USD thời đó.

Vẫn còn quá sớm để nói về thành công của những vụ đánh cược lớn trong thời gian gần đây, nhưng phải thực sự công nhận các tỷ phú này đã là người đến sớm.

Khi cuộc khủng hoảng tín dụng bắt đầu, nhiều tỷ phú cỡ bự đã nhanh chóng lập kế hoạch tìm kiếm và thâu tóm nhiều công ty. Như trường hợp hoàng tử Alwaleed, ông đã công bố với báo giới về cú đúp đầu tư vào Citibank. Nhà tài chính người Anh tên là Joseph Lewis đã nắm gần 10% cổ phần tại ngân hàng “quá cố” Bear Stearns và nhà đầu tư Sam Zell đang công khai rao bán ông ty Tribune Co. Cả ba tỷ phú này đã mất khá nhiều tiền trong những vụ đánh cược như thế và nhiều khả năng họ phải trả giá vì sự phán đoán sai lầm của mình.

Những tỷ phú gần đây đã đánh cược thận trọng hơn giống như tỷ phú dòng dõi hoàng tộc UAE là Mansour bin Zayed Al Nahayan và ông trùm quyền lực Mexico Carlos Slim Helú. Cả hai người này đã đầu tư vào ngân hàng Barclays của Anh và tờ báo nổi tiếng của Mỹ The New York Times Co.

Họ đã mua những cổ phiếu ưu đãi và chúng đã sinh lợi trung bình 14% cho tới khi họ giao dịch nó trên sàn chứng khoán theo thứ tự là năm 2014 và 2015.

Những ông trùm khách sẽ công khai thông tin về số phận của phần tài sản mà họ đang đánh cược khi giá cổ phiếu tiếp tục biến động trong thời gian gần đây. Buffett đang nắm giữ một thỏa thuận mua bán khi ông bỏ ra 5 tỷ USD để mua cổ phiếu ưu đãi của ngân hàng Goldman Sachs vào cuối tháng 9 năm ngoái. Những cổ phiếu ưu đãi này không chuyển nhượng được, tuy nhiên chúng sinh lợi 10% cổ tức cho ông.

Đã có một số tỷ phú tham gia vào cuộc săn tìm mối lợi phải bỏ cuộc như nhà đầu tư tài chính Nicolas Berggruen, Tom Hicks và Nelson Peltz. Họ đã bỏ khá nhiều tiền với mục đích đặc biệt là giành được một số công ty.

Berggruen là một trường hợp, ông đã đổ 528 triệu USD qua hình thức SPAC (mua bán và sáp nhập doanh nghiệp cho mục đích niêm yết) vào tháng 12/2006 và tận dụng vận may tiếp cận một quỹ đầu tư tại châu Âu tên là GLG tại sàn chứng khoán New York 6 tháng sau đó. Ông có xấp xỉ 1,8 tỷ USD và chỉ vài tháng sau ông mắc nợ SPACs và trở thành vật sở hữu trong vòng 2 năm và bị ép buộc trong giao dịch.

Không biết có bao nhiêu tỷ phú phải bỏ cuộc như thế trong việc săn tìm những món hời trong những năm gần đây. Nhưng một điều chắc chắn là Như thế nào (How) và Khi nào (When) họ lựa chọn cơ hội và tiếp cận những công ty đang “đau ốm” trong nền kinh tế.

(SEM vietnam – Theo nguoilanhdao)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Đối thoại cùng Philip Kotler

Hỏi: Ông đã từng tư vấn cho các công ty nổi tiếng trên thế giới như IBM, General Electric, AT&T, Honeywell, Bank of America, Merck… Vậy dự án nào được ông đánh giá là thành công hơn cả?

philipkotlerP.K. Nhiều người đã đặt ra câu hỏi này cho tôi. Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi phải nói rằng, đây là thông tin bảo mật mà tôi không được phép tiết lộ. Giá trị của việc tư vấn này là giúp doanh nghiệp định hướng một cách rõ ràng hơn tới khách hàng chứ không phải định hướng tới việc sản xuất của họ.
Tôi làm việc với IBM là nhằm giúp họ hiểu rõ tầm quan trọng của việc theo dõi sự thay đổi trong nhu cầu và lợi ích của khách hàng chứ không đơn thuần là bán giải pháp kỹ thuật. Tôi hợp tác với Merck là nhằm giúp họ đẩy mạnh mảng sáng tạo, cách tân trong kinh doanh bằng công cụ marketing.

Hỏi: Ông có nhận định gì về marketing? Đó là nghệ thuật hay là một nghề nghiệp?

P.K. Marketing là một nghề chứ không phải một loại hình nghệ thuật. Hiệp hội Marketing và Viện marketing Anh đã không hẹn mà gặp khi cùng đưa ra những tiêu chuẩn chung đối với các chuyên gia marketing. Họ cho rằng, với sự trợ giúp của các bài trắc nghiệm, người ta có thể phân biệt được ai là chuyên gia marketing và ai không. Tuy nhiên, một người bình thường chưa từng hoạt động trong lĩnh vực marketing vẫn có thể đưa ra được nhiều ý tưởng tuyệt vời. Ví dụ, Ingvar Kamprad không phải là chuyên gia marketing, nhưng hãng IKEA của ông vẫn trở thành cái tên huyền thoại trong lĩnh vực đồ nội thất gia đình. Có thể nói, marketing còn được đánh giá như là một môn khoa học vì thông qua các chiến dịch nghiên cứu thị trường của mình, các chuyên gia tiếp thị khám phá ra những điều mới mẻ về sản phẩm, người tiêu dùng để từ đó đưa ra các định hướng nhằm phân bổ nguồn lực một cách tối ưu nhất đồng thời đưa ra các dự đoán về thị trường. Ở đây, rất khó để đưa ra nhận định điều gì quan trọng hơn cả trong marketing – khía cạnh nghề nghiệp, nghệ thuật hay khoa học.

Hỏi: Trên thực tế có tồn tại các phương pháp tiếp thị nan giải nào không hay tất cả chỉ là sự phát triển của phương pháp cổ điển mà ông thường áp dụng?

P.K. Câu hỏi khá thú vị đấy! Marketing không phải là một bộ môn khoa học hàn lâm như phân tích hình học. Nhiều quốc gia có nền kinh tế, chính trị hay văn hóa khác nhau vẫn áp dụng nhiều phương pháp tiếp thị khác nhau. Tuy nhiên, marketing được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc sau: 1. Trong thời gian xây dựng chiến lược marketing, chuyên gia tiếp thị cần phải luôn xác định rõ rằng: trung tâm của chiến lược tiếp thị chính là người tiêu dùng, đối thủ và tác nhân truyền bá thông tin tiếp thị.2. Cần phải phân khúc từng thị trường và tập trung hướng chủ đạo của mình vào phân khúc nào mà công ty của bạn có thế mạnh nhất. 3. Trong từng phân khúc thị trường, cần nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng, cách suy nghĩ của họ đối với sản phẩm và hình thức mua hàng của họ.

4. Để đảm bảo thành công, cần phải chú trọng đến chất lượng tốt nhất cho sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm người tiêu dùng. Lúc này, marketing đã phát triển dưới sự ảnh hưởng của các xu hướng hiện đại, ví dụ như ta đã từng nghe thấy thuật ngữ marketing cảm giác, marketing du kích, marketing tin đồn….

Hỏi: Trong các bài báo của mình, ông đã từng đề cập rằng, marketing hiện nay đang trong tình trạng tồi tệ chưa từng thấy. Vậy nguyên nhân là ở đâu, thưa ông?

P.K. Nên nhớ rằng, 75% các sản phẩm/dịch vụ mới của các doanh nghiệp khi tung ra thị trường thường là thất bại. Marketing là quá trình duy nhất bao gồm hàng loạt các nguyên tắc/bước thực hiện nhất định. Vậy nhưng nhiều doanh nghiệp lại thường không hiểu được điều này và thực hiện các chiến dịch marketing một cách tùy tiện: nhóm này lập chiến lược tiếp thị, nhóm khác phụ trách sản phẩm, tính toán chi phí, bộ phận marketing thực chất chỉ thực hiện nhiệm vụ bán hàng và quảng cáo. Kết quả là công ty sản xuất ra sản phẩm mà không tiêu thụ được, và bộ phận marketing thường được “choàng” thêm nhiệm vụ “dọn rác” bằng cách cật lực bán hàng, cật lực quảng cáo.

Ngoài ra, thực tế thường cho thấy rằng, bộ phận marketing và quảng cáo không thể đảm nhiệm tốt việc bán hàng và quảng cáo, đơn giản là họ không đủ kiến thức và kỹ năng. Tôi cho rằng nhiệm vụ chính của bộ phận marketing là tạo ra chiến lược kinh doanh cho sản phẩm.

Hỏi: Ông có nói rằng marketing đang trở nên ngày càng phức tạp hơn. Còn tôi thì gặp khá nhiều giám đốc marketing, những người luôn cho rằng marketing hoàn toàn không có gì là phức tạp cả.

P.K. Đó là cả một vấn đề lớn đấy. Nhiều người làm marketing nhưng không hiểu thế nào là marketing.

Hỏi: Vậy thì ông có thể giải thích vấn đề này được không? Trên bàn làm việc của nhiều chuyên gia tiếp thị vẫn có những cuốn sách do ông viết từ lâu lắm rồi.

P.K. Marketing không phải là nơi để ta ném tiền qua cửa sổ, mà đó là nơi bạn phải xác định một cách rất rõ các nhóm khách hàng của mình và nhu cầu của họ đồng thời đưa ra các quyết định nhằm đáp ứng các nhu cầu đó.

Hỏi: Thế nào gọi là trách nhiệm xã hội của marketing?

P.K. Năm 1970, tôi đã chia marketing thành một số mảng: marketing thương mại (business- marketing), marketing phi thương mại, marketing xã hội. Chúng ta đã quen với thuật ngữ marketing thương mại. Ví dụ về marketing phi thương mại: đó là công ty, tổ chức mà mục đích của nó không nhằm tạo ra lợi nhuận (họ chỉ thu hút khách hàng, nguồn tài chính cho các chương trình giúp đỡ người nghèo, tổ chức các triển lãm, các chương trình gây quỹ từ thiện giúp bệnh nhân, trẻ em lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn…). Còn marketing xã hội có thể được hiểu là việc truyền bá hình mẫu cuộc sống, giúp con người sống tốt hơn, khỏe mạnh hơn (thực phẩm an toàn, thể thao lành mạnh…) hoặc tuyên truyền giúp con người từ bỏ các thói quen có hại cho sức khỏe (hút thuốc lá, sử dụng heroin…). Các công ty cần phân biệt rõ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội của người tiêu dùng.

Ví dụ, hút thuốc lá có thể mang lại cảm giác mãn nguyện đối với một cá nhân nào đó, nhưng nó sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của những người xung quanh. Và đương nhiên là điều đó tạo ra gánh nặng cho xã hội trong lĩnh vực chăm sóc y tế cộng đồng. Thời gian sau này, tôi có viết cuốn “Trách nhiệm xã hội” (Corporative social responsibility), trong đó tôi có nhấn mạnh đến khía cạnh rằng, các doanh nghiệp quan tâm đến việc nâng cao phúc lợi xã hội thường đạt được những kết quả kinh doanh tốt hơn trong kế hoạch kinh doanh dài hơi so với các doanh nghiệp ít quan tâm đến khía cạnh trách nhiệm xã hội. IBM, McDonald’s, Ben & Jerry’s và nhiều công ty khác đã được thừa nhận nhờ những thành công nhất định khi thể hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng.

Hỏi: Trong cuốn sách của mình, ông đã từng nói rằng, không nên cùng lúc “xuất kích” trên tất cả các thị trường mà nên tập trung nguồn lực vào một phân khúc nào đó và đặc biệt phải đưa ra được chương trình markting cho từng phân khúc như vậy. Điều này có nghĩa rằng ông phản đối các chương trình marketing chiến lược hướng đến tất cả phân khúc thị trường? Hay là đối với mỗi một phân khúc thị trường ta nên lập một kế hoạch cụ thể riêng biệt?

P.K. Ý tưởng ban đầu về việc sản xuất hàng tiêu dùng được các nhà cung cấp xà phòng, thực phẩm, tủ lạnh, xe hơi… áp dụng. Công ty Procter & Gamble sản xuất xà phòng Ivory và tung ra thị trường, cho tất cả tầng lớp người tiêu dùng. Chiến lược marketing của Coca-Cola được xây dựng trên nguyên tắc tương tự – loại nước giải khát dành cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, mỗi người lại có một khẩu vị khác nhau. Và điều đó trở thành thách thức đối với các doanh nghiệp nói trên. Họ phải tìm cách hướng đến phân khúc hẹp hơn. Hiện nay, P&G sản xuất nhiều loại sản phẩm tẩy rửa dành cho nhiều loại đối tượng khách hàng khác nhau, còn Coca-Cola cũng đưa hàng chục loại nước giải khát cho khách hàng lựa chọn. Nói chung, doanh nghiệp có thể áp dụng ba chiến lược sau đây: tung ra một mặt hàng nào đó cho tất cả người tiêu dùng (undifferential marketing), tung ra một số mặt hàng cụ thể nào đó cho một số nhóm người tiêu dùng nhất định (differential marketing) hoặc tập trung hẳn vào một phân khúc hẹp (concentrative marketing)

Hỏi: Ông có cho rằng marketing sẽ trở nên phức tạp hơn trong tương lai?

P.K. Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra khắp nơi. Con số các vụ sáp nhập, thôn tính và phá sản đang càng ngày càng tăng lên. Sự trung thành của người tiêu dùng chỉ có thể hiện hữu trong các công ty tiên phong biết quan tâm đến nhu cầu của từng nhóm khách hàng đồng thời biết cách chăm sóc họ. Không quan trọng là anh có thể sản xuất ra loại hàng hóa rẻ tới mức nào. Trung Quốc là nơi mà hàng hóa luôn có giá thành rẻ nhất và đất nước này đang nối gót Nhật trong việc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với giá thành thấp.

Người tiêu dùng cũng ngày càng trở nên bận rộn hơn, khó tìm hơn, khó tính hơn, cầu toàn hơn trong các vụ mua sắm. Ở Mỹ, nếu một người nào đó muốn mua chiếc xe hơi, anh ta sẽ click vào các địa chỉ bán xe trên mạng và gửi đi thông điệp “Tôi muốn mua chiếc xe màu xanh của hãng X. với giá không quá 25 nghìn đô-la”. Và không phải là nhân viên bán hàng nói rằng “đây là xe của anh”, mà bản thân người mua hàng sẽ chỉ ra chiếc xe mà anh ta cần.

Giá thành marketing đại chúng càng ngày càng tăng lên trong khi hiệu quả lại đang tỷ lệ nghịch. Người tiêu dùng đang càng ngày càng tỏ ra thờ ơ với các chương trình quảng cáo trên truyền hình, trong khi các hãng quảng cáo truyền hình đang ngày càng tìm cách tăng giá. Điều này buộc các chuyên gia tiếp thị phải tìm ra các phương thức quảng cáo khác: quảng cáo trên khinh khí cầu, quảng cáo trên sân vận động trong các giải bóng đá, quần vợt, khúc côn cầu, trên xe hơi, xe bu‎‎ýt, xe đua, quảng cáo qua phim ảnh, trong nhà vệ sinh, thang máy, trạm xăng, trong các cuốn sách…Ví dụ, Fay Weldon đã viết cuốn The Bulgari Connection theo đơn đặt hàng của hãng Bulgari với chuỗi ngọc trai tuyệt hảo ngoài bìa.

Marketing qua điện thoại di động (mobile marketing) cũng phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Cách đây không lâu, tôi có đi qua một trung tâm thương mại lớn, thế là trong chiếc điện thoại di động của tôi hiện lên các thông tin về việc giảm giá trong cửa hàng này. Thành thật mà nói, tôi không thích kiểu marketing này lắm vì nó gây cảm giác phiền toái cho tôi. Nhưng đây cũng chính là một kênh truyền thông hiệu quả để liên lạc với khách hàng.

Hay như kiểu marketing tin đồn. Ở Mỹ, nhiều công ty đã tuyển sinh viên vào làm việc bán thời gian với nhiệm vụ phân phát sản phẩm mẫu cho khách hàng kèm thông điệp “Anh/chị không nhất thiết phải kể về sản phẩm này cho người khác nếu không cảm thấy thích chúng. Còn nếu thích, anh chị hãy kể lại với bạn bè, người quen của mình”. Và các sinh viên này phải làm báo cáo cho lãnh đạo công ty biết có bao nhiêu khách hàng đã kể lại câu chuyện về sản phẩm của họ cho người quen, bạn bè, và đó là những túyp người nào. Đây cũng chính là một kiểu tiếp thị khá hiệu quả.

Hỏi: Ông đã từng viết rằng câu thần chú của marketing – đó là thương hiệu và các giá trị. Vậy làm thế nào để xây dựng được một thương hiệu mạnh?

P.K. Đối với một thương hiệu thì mục tiêu bao giờ cũng đóng vai trò rất quan trọng. Để làm gì ư? Vì sản phẩm khi tung ra thị trường phải là loại tốt nhất mà người tiêu dùng muốn “xuống tiền” để sở hữu nó. Nếu như nhà sản xuất không đảm bảo được hai yếu tố này, thương hiệu sẽ chỉ là con số không. Có một điều quan trọng mà các doanh nghiệp cần hiểu là thương hiệu không thể được xây dựng dựa trên sự hỗ trợ của quảng cáo. Quảng cáo không bao giờ có thể tạo ra ước muốn mua hàng ở người tiêu dùng cũng như lòng tin của họ đối với sản phẩm. Quảng cáo chỉ có thể giúp nâng cao mức nhận biết của người tiêu dùng đối với thương hiệu. Slogan, màu sắc, âm nhạc… không phải là lợi thế cạnh tranh mà chỉ là yếu tố cần hiện diện trong thương hiệu.

Điều quan trọng nhất – đó là kinh nghiệm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Đây chính là điều cho phép người tiêu dùng hiểu được thương hiệu của bạn mạnh hay yếu. Thương hiệu chính là sự hứa hẹn một kết quả nào đó mà nhiều người không hiểu được. Nếu thương hiệu được nhiều người biết đến nhưng lại tạo ra cho họ cảm giác không thân thiện, không tin cậy thì đó là một thương hiệu tồi. Ngược lại, nếu thương hiệu được người tiêu dùng tin cậy, quý mến nhưng với độ nhận biết kém sẽ được coi là thương hiệu tiềm năng tốt.

Hỏi: Ông có nhận định gì về tương lai của marketing?

P.K. Khuynh hướng lớn nhất – đó là marketing luôn phải vận động để bắt mạch kịp nhu cầu của xã hội. Nhiều công ty dành hẳn ra những bộ phận chuyên biệt để sẵn sàng lao vào cuộc chiến thương hiệu. Ví dụ, tại hãng hàng không nọ có hẳn một phòng riêng biệt, trên tường treo những màn hình lớn báo thời tiết, lịch trình các chuyến bay của tất cả các hãng hàng không, giá cả của các đối thủ cạnh tranh. Những căn phòng như vậy cho phép hãng đưa ra quyết định nhanh chóng và kịp thời.

Xu hướng thứ hai là marketing đang ngày càng được định hướng theo góc độ tài chính. Nghĩa là chuyên gia tiếp thị cần biết rõ nguồn lực đầu tư được phân bổ đi đâu, kênh phân bổ hàng hóa nào được coi là khả thi nhất và mang lại hiệu quả cao nhất để từ đó loại bỏ các kênh ít khả thi.

Xu hướng thứ ba – marketing càng ngày càng mang tính kỹ thuật hơn. Các chuyên gia tiếp thị càng ngày càng có xu hướng sử dụng các bảng biểu mà thông qua đó, ai cũng có thể nhìn thấy tiến độ công việc diễn ra trong công ty hàng ngày, hàng tháng hay hàng quý. Điều này rất cần thiết để chuyên gia tiếp thị đưa ra quyết định đúng lúc, đúng thời điểm, giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh doanh.

Hỏi: Ông có nhận định gì về vai trò của các hãng tư vấn PR, tư vấn quảng cáo và tiếp thị trong marketing?

P.K. Có một sai lầm phổ biến là các công ty thường tuyển dụng nhân viên marketing hay quảng cáo vào làm việc rồi lại buộc họ phải tự nghiên cứu thị trường, tự xây dựng các chiến dịch quảng cáo. Thực ra thì nhiệm vụ chính của anh ta là tìm kiếm các hãng tư vấn chuyên nghiệp để giúp doanh nghiệp thực hiện những công việc đó. Điều quan trọng là anh ta phải gây dựng được mối quan hệ lâu bền đối với hãng cung cấp dịch vụ tư vấn đó. Hãng quảng cáo phải là nơi giúp bạn tăng doanh thu trong tương lai chứ không phải là chỗ mà các chuyên gia tiếp thị đến “hót” cho bạn nghe những bài lý thuyết và thu tiền của bạn. Chỉ khi hãng quảng cáo và công ty của bạn cùng chia sẻ sự hiểu biết với nhau về mối quan tâm chung, lúc đó liên minh này mới tạo ra được kết quả tốt.

Hỏi: Ai cũng biết là kinh doanh luôn nằm trong vòng xoáy của sự vận động. Các doanh nghiệp không kịp thay đổi thường sẽ đánh mất vị trí của mình và “bốc hơi” nhanh chóng. Vậy trong kinh doanh có điều gì bất biến không?

P.K. Thời hạn tồn tại trung bình của một công ty thường là 20 năm. Công ty có thể bị khai tử nếu như không tự thay đổi để phù hợp với điều kiện của thương trường, không trụ vững trước những sóng gió về tài chính hoặc bị đối thủ “nuốt”. Tuy nhiên, cũng có những công ty hoạt động tốt trong cả hàng trăm năm hình thành và phát triển. Câu trả lời cho câu hỏi vì sao các công ty thường chết yểu trong giai đoạn trứng nước, theo tôi, nằm trong cuốn sách của James Collins “Built to Last” và Arie De Geus “The Living Company”.

**************************************

Philip Kotler cho rằng, một quy trình nghiên cứu thị trường thường bao gồm 15 giai đoạn mà mỗi một giai đoạn chính là câu trả lời cho một trong các câu hỏi sau:1. Người tiêu dùng nhận biết nhu cầu của mình như thế nào đối với sản phẩm/dịch vụ của bạn?
2. Người tiêu dùng tìm ra sản phẩm của bạn như thế nào?
3. Người tiêu dùng quyết định chọn lựa như thế nào?
4. Người tiêu dùng đặt mua hàng/dịch vụ của bạn như thế nào?
5. Sản phẩm/dịch vụ của bạn của bạn được giao đến tay khách hàng như thế nào?
6. Điều gì xảy ra khi sản phẩm của bạn được giao tới tay người tiêu dùng?
7. Hàng hóa, sản phẩm của bạn được bày biện như thế nào?
8. Việc thanh toán được thực hiện ra sao?
9. Sản phẩm của bạn được bảo quản như thế nào?
10. Sản phẩm của bạn được đón nhận như thế nào?
11. Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của bạn với mục đích gì? (Đôi khi, mục đích sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng không trùng hợp với mong đợi của nhà sản xuất).
12. Người tiêu dùng cần sự hỗ trợ nào khi sử dụng sản phẩm?
13. Việc sản phẩm bị trả hay đổi lại diễn ra như thế nào?
14. Việc bảo hành hay sửa chữa sản phẩm có lỗi diễn ra như thế nào?
15. Điều gì sẽ xảy ra nếu như sản phẩm đã được sử dụng và không còn có ích nữa?Nhận xét:

Những bài trả lời phỏng vấn của Philip Kotler cho chúng ta một tầm nhìn toàn diện hơn về marketing hiện đại và marketing cổ điển. Xu hướng marketing hiện đại như marketing qua điện thoại di động (mobile marketing), marketing tin đồn cũng có thể áp dụng ở Việt Nam . Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên bắt đầu từ chiến lược tập trung hẳn vào một phân khúc hẹp rồichiến lược hướng đến một nhóm khách hàng nhất định và sau cùng là chiến lược cho tất cả người tiêu dùng.

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

7.000 DN phá sản: Thực tế còn nhiều hơn

Vietnamnet - Đã có tới 7.000 doanh nghiệp (DN) công bố giải thế và hơn 3.000 DN khác đã phải ngừng sản xuất. Ngoài ra, tính mức trung bình chung cho cả khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mức suy giảm lên tới 30-50% so với trước đây.

Tại buổi gặp gỡ với các DNNVV, tổ chức ngày 18/3 tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Huyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, cho biết, con số này ông biết được qua thông tin từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Theo ông Huyến, mặc dù chiếm một số lượng rất lớn trong cộng đồng DN Việt Nam, nhưng DNNVV là đối tượng dễ bị “tổn thương” nhất khi kinh tế suy thoái do hạn chế về công nghệ, về năng lực quản lý, điều hành, thiếu vốn và thiếu khả năng tiếp cận với thị trường bên ngoài. Chính những hạn chế này đã đẩy các DNNVV rơi vào tình trạng khó khăn.

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200903/original/images1743034_DNNVV331.jpg

Con số 7.000 DN có thể gây bất ngờ cho một số người nhưng so với số liệu mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện cả nước có 349.309 DN có đăng ký kinh doanh với số vốn đăng ký lên đến 1.389.000 tỷ đồng (tương đương 84,1 tỷ USD). Trong số này, hơn 95% là các DNNVV. Nếu vậy, con số trên không phải là tỷ lệ lớn.

Thống kê của Hiệp hội DNNVV về tác động khủng hoảng kinh tế đối với các DN nhỏ và vừa cho thấy, trong tổng số DN, các DN khó khăn trung bình khoảng 70%, rất khó khăn chiếm khoảng 20%.

Nếu không được tiếp cận vốn và tình hình xấu đi, sẽ có khoảng 20% tổng số DN bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản.

Ông Cao Sỹ Kiêm – Chủ tịch Hiệp hội DNNVV, nhiều lần nhấn mạnh, gần 1/2 của 20% trên đây, tức 10% đã ngừng hoạt động hoặc họ có thể chuyển hướng, hoặc tương lai họ sẽ bị phá sản. 10% còn lại bị tác động lạm phát, nếu chính sách tốt lên họ sẽ cải thiện tình hình tốt hơn. Còn 10% ngừng hoạt động đã khó khăn từ trước rồi, nay lạm phát họ lại khó khăn thêm, chấp nhận phá sản.

Nếu so sánh với khảo sát trên đây, thì con số 7.000 DN phá sản không có gì là quá “khủng khiếp”, thậm chí có thể chưa phản ánh hết thực tế khó khăn của DN.

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Nhà cảnh báo khủng hoảng của thế giới đến Việt Nam

Giáo sư Paul Krugman – kinh tế gia nổi tiếng, người đoạt giải Nobel kinh tế 2008, sẽ đến Việt Nam vào ngày 21/5 và bàn luận về vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay – bài toán khủng hoảng.

Krugman là một trong những tên tuổi nổi bật nhất của nền kinh tế học đương đại. Ông là “cha đẻ” của thuyết thương mại mới và thuyết địa kinh tế mới, là bậc thầy về toàn cầu hóa và tài chính toàn cầu. Đặc biệt, ông đã sớm đưa ra những cảnh báo về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, cũng như khủng hoảng kinh tế – tài chính châu Á năm 1997. Chính vì vậy, ông còn được mệnh danh là “nhà cảnh báo khủng hoảng” của thế giới.

Paul Krugma

Không chỉ là một học giả uyên bác, Paul Krugman còn được biết đến như một người có khả năng biến những tư tưởng, những khái niệm “cao siêu”, phức tạp của kinh tế học thành một thứ ngôn ngữ mà bất cứ ai có quan tâm đến lĩnh vực này cũng có thể dễ dàng hiểu được. Ông cũng chính là người phụ trách chuyên mục OpEd của tờ New York Times. Tờ Washington Monthly gọi ông là “nhà báo kinh tế quan trọng nhất của nước Mỹ”, còn tờ The Economist đánh giá ông là “nhà kinh tế học nổi bật nhất trong thế hệ của ông”.

Ông cũng là tác giả của hơn 20 cuốn sách và 200 bài báo trên các tạp khí khoa học hàng đầu thế giới. Một số tác phẩm phổ biến nhất của ông là Sự trở lại của kinh tế học suy thoái (The Return of Depression Economics), Nền tảng của kinh tế học (Essentials of Economics), Kinh tế học quốc tế: Lý thuyết & Chính sách (International Economics: Theory & Policy)… Những công trình nghiên cứu của ông cũng đã mang lại cho ông rất nhiều giải thưởng danh tiếng khác từ rất sớm. Cách đây gần 20 năm, ông đã được vinh danh với Huy chương John Bates Clark dành cho nhà kinh tế học xuất sắc nhất của nước Mỹ dưới 40 tuổi (do Hiệp hội các nhà Kinh tế học Mỹ trao tặng vào năm 1991) vì những đóng góp quan trọng của ông cho kho tàng tri thức kinh tế học của nhân loại.

Hiện ông là giáo sư kinh tế học lỗi lạc của Đại học Princeton. Ông cũng từng giảng dạy kinh tế học, tài chính toàn cầu và thương mại quốc tế tại Đại học Yale, MIT và Standford.

Đây là lần đầu tiên Paul Krugman tới Việt Nam, theo lời mời của Trường Doanh nhân PACE. Ông sẽ tham dự và chủ trì một Hội thảo quốc tế với chủ đề “Tìm kiếm cơ hội và giải pháp trong khó khăn và khủng hoảng”. Bên cạnh việc lắng nghe những kiến giải sâu sắc, những cảnh báo và dự báo mới của giáo sư Paul Krugman về tương lai của nền kinh tế thế giới, về tương lai của nền kinh tế Đông Á, trong đó có Việt Nam; Hội thảo cũng sẽ dành phần lớn thời gian cùng chia sẻ, bàn bạc và tìm kiếm lời giải cho “bài toán khủng hoảng” hiện nay.

Dự kiến, Hội thảo này sẽ quy tụ khoảng 700 người tham dự là các nhà hoạch định chính sách, các học giả uy tín trong nước và quốc tế, đặc biệt là sự có mặt của giới doanh nhân, giới tài chính, những người đang ngày đêm dẫn dắt doanh nghiệp của mình “vượt bão” trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Video Philip Kotler Đến Việt Nam

Phỏng vấn Philip Kotler tại Ward Howell International

Trong khuôn khổ dự án “Đối thoại và gặp gỡ” do Ward Howell International tổ chức hàng năm.Cuộc gặp mặt và trao đổi giữa một chuyên gia hàng đầu về marketing của thế giới và các nhà quản lý, các chuyên viên marketing của Nga đã diễn ra hết sức thú vị, sôi nổi.

E-xecutive: Thưa ông, có phải bất cứ ai cũng có thể trở thành chuyên viên marketing cả, nếu như anh ta có ước muốn, hay họ buộc phải có tài năng bẩm sinh thì mới thành công?Philip Kotler (P.K.): Trong lĩnh vực marketing sẽ chẳng có chỗ cho những ai không đủ kiến thức cũng như sự thấu hiểu khách hàng. Tuy nhiên, phần lớn mọi người, nếu được đào tạo tốt, vẫn có thể trở thành những chuyên gia marketing thực thụ. Song, điều tôi muốn nhấn mạnh là, chỉ có một số rất ít có thể thở thành chuyên gia marketing ngọai hạng, nếu như họ thực sự say mê lĩnh vực này đồng thời có sự hình dung, tưởng tượng tốt. Steve Jobs (Apple) và Richard Brenson (Virgin) là hai ví dụ sinh động nhất có thể minh chứng cho điều này.E-xecutive: Trước sự thay đổi của nền kinh tế thế giới, marketing đang ngày càng có một tầm ảnh hưởng lớn đối với cuộc sống con người, vậy có nên nghĩ đến việc kiếm một tấm bằng chuyên ngành marketing? Theo ông, hình thức đào tạo nào được coi là hiệu quả nhất đối với một chuyên gia marketing?

P.K.: Bạn có biết người Nhật đào tạo nhân viên marketing như thế nào không? Các ông chủ doanh nghiệp thường tuyển những nhân viên trẻ tuổi và gửi họ tới thực tế tại các nhà máy sản xuất. Bằng cách này, các ông chủ tạo ra được sợi dây gắn kết giữa nhân viên của mình với sản phẩm. Nhân viên của họ sẽ có dịp tìm hiểu sâu hơn về sản phẩm của doanh nghiệp. Sau đó, họ được làm quen với các bộ phận khác như cung ứng nguyên liệu, bộ phận phục vụ khách hàng để có thể tìm hiểu về thành phần của sản phẩm hay cung cách phục vụ người tiêu dùng, vì sao khách hàng lại than phiền về sản phẩm, cách khắc phục sai sót nhằm bảo vệ uy tín của doanh nghiệp cũng như quyền lợi của người tiêu dùng. Sau đó, họ được chuyển đến bộ phận bán hàng và cuối cùng mới chuyển tới bộ phận marketing.

E-xecutive: Người tiêu dùng thời nay có nhiều cơ hội để nhận được thông tin về sản phẩm mà mình quan tâm. Và bởi vậy, họ cũng có vẻ không tin tưởng lắm vào quảng cáo thương mại. Trong bối cảnh này, liệu các doanh nghiệp phải làm gì để chiếm được lòng tin của khách hàng?

P.K.: Để giữ được vị trí của mình trên thương trường, doanh nghiệp cần đòi hỏi nhân viên của mình giám sát chặt chẽ sản phẩm/dịch vụ của mình khi tung ra thị trường. Thậm chí, cấp lãnh đạo cũng cần phải tham gia vào quá trình này. Ví dụ, chủ một chuỗi khách sạn có thể ghé vào bất cứ khách sạn nào của mình và vờ đóng vai khách hàng để xem thử nhân viên ở đây phục vụ khách hàng ra sao, mọi quy chuẩn mà ông chủ đề ra đã được thực hiện tốt hay chưa. Nếu chưa hài lòng, bạn có thể chấn chỉnh cung cách phục vụ của nhân viên để đảm bảo uy tín mà doanh nghiệp muốn tạo ra cho khách hàng.

E-xecutive: Theo ông thì một tài năng trong lĩnh vực marketing phải là người thế nào?

P.K.: Một tài năng trong lĩnh vực marketing phải là người có khả năng nhận ra cả chặng đường tạo dựng sản phẩm hay dịch vụ. Một chuyên gia marketing kể rằng, có lần anh ta hỏi một khách hàng là họ cần gì, người khách hàng này trả lời rằng, anh ta muốn có một con ngựa chạy thật nhanh. Nhưng, vị chuyên gia marketing tài năng này lại hiểu rằng, khách hàng đang muốn có một chiếc xe hơi và dĩ nhiên là nó phải tốt hơn bất cứ con ngựa nào. … Những gì cần thiết cho các doanh nghiệp trong thời đại ngày nay – đó không chỉ là những ý tưởng mới mà còn là những con người có khả năng giải quyết các vấn đề một cách thông minh và hiệu quả.

E-xecutive: Thưa ông, liệu các kiến thức về quản trị marketing có hiệu lực nếu áp dụng vào lĩnh vực chính trị?

P.K.: Các nhà chính trị đều cần đến lý thuyết và thực tiễn marketing. Họ cần các số liệu thăm dò xã hội học nhằm hiểu rõ tiến trình chuyển biến của các nhóm cử tri. Ngày nay, các nhà chính trị đang tìm cách đưa ra chính sách mang tính “đặc thù” của mình trong nỗ lực cạnh tranh với các đối thủ khác. Họ sử dụng các kênh truyền thông khác nhau nhằm lôi cuốn cử tri. Điều này có cái tốt nhưng cũng có mặt hạn chế. Tốt ở chỗ là, các nhà chính trị rồi cũng sẽ hiểu mục tiêu mong muốn của các nhóm cử tri để rồi từ đó có định hướng trong công việc của mình nhằm đáp ứng kỳ vọng của đại đa số những cử tri đó. Mặt hạn chế thể hiện ở chỗ, các chính trị gia thường chỉ đưa ra các lời hứa suông nhằm lấy lòng cử tri với mục đích cuối cùng là được bầu chọn trong cuộc đua vào các vị trí quan trọng. Hơn thế nữa, họ còn áp dụng các công cụ marketing, ví dụ như cho trưng ra các kết quả điều tra xã hội, các bảng thăm dò ý kiến dân chúng…, nhằm điều khiển, thao túng dư luận xã hội.

E-xecutive: Thưa ông, những xu hướng mới nào trong marketing được coi là quan trọng nhất?

P.K.: Đó là một số thay đổi sau:

Từ cách tiếp thị kiểu «tự sản tự tiêu» tới cách marketing «lắng nghe và nhấp chuột»;
Từ chú tâm vào tài sản vật chất chuyển sang việc chú trọng vào xây dựng thương hiệu và làm giàu từ thương hiệu;
Từ marketing số đông chuyển sang marketing định hướng đến nhu cầu của người tiêu dùng;
Từ cạnh tranh giành thị phần chuyển sang cạnh tranh giành khách hàng;
Từ nỗ lực thu hút khách hàng mới chuyển sang việc giữ chân họ đồng thời đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng;
Từ marketing gián tiếp chuyển sang marketing trực tiếp;
Từ hình thức marketing một chiều sang marketing nhiều chiều;
Từ việc chú trọng đến sản phẩm chuyển sang chú trọng đến quyền lợi của người tiêu dùng;
Từ quan điểm chỉ có nhân viên bộ phận marketing làm tiếp thị chuyển sang quan điểm tất cả nhân viên trong công ty đều làm tiếp thị.
Tôi nghĩ rằng, tất cả các xu hướng trên đều quan trọng đối với doanh nghiệp.

E-xecutive: Ông có thể nêu ra 3 chương trình đào tạo MBA tốt nhất về chuyên ngành Marketing?

P.K.: Tôi có thể nêu ra hai chương trình đào tạo tốt nhất tại Mỹ: đó là Kellogg, Northwestern và Wharton, University of Pennsylvania, mặc dù tôi biết, tại Mỹ cũng như tại châu Âu còn có nhiều chương trình đào tạo tốt về chuyên ngành marketing.

E-xecutive: Theo ông, có tồn tại sự hạn chế nào trong phân khúc thị trường cũng như các tiêu chí trong việc tạo ra các thương hiệu phụ (sub-brands) trên thị trường tiêu dùng nhanh( FMCG)?

P.K: Xung động chính cho việc tạo ra các nhãn hiệu/thương hiệu phụ – đó là việc tăng thị phần trên thương trường đồng thời PR tên tuổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng, có khi các nhãn hiệu phụ này lại làm lu mờ dòng sản phẩm chính của công ty, và như vậy, rõ ràng là lợi bất cập hại. Nói chung, việc mở rộng sản phẩm luôn là vấn đề phức tạp, và không thể nói về nó chỉ trong giới hạn một vài dòng…

E-xecutive: Có cách nào tạo ra sự khác biệt trong việc tối ưu hóa việc bán hàng. Liệu người tiêu dùng có nhầm lẫn trong việc lựa chọn sản phẩm?

P.K.: Sự khác biệt này có ý nghĩa rất quan trọng tại các thị trường rộng lớn. Tuy nhiên, điều này lại co vẻ như không hiệu quả tại các thị trường hẹp, nơi mà lợi nhuận không được hấp dẫn cho lắm. Ngòai ra, người tiêu dùng lạio dễ hoa mắt trước quá nhiều sự lựa chọn, và họ sẽ bước ra khỏI cửa hàng khi mà không biết phải chọn thứ sản phẩm nào.

E-xecutive: Thế nào là thị trường ảo (metamarket) và doanh nghiệp có thể có được lợi ích gì từ thị trường ảo này?

P.K: Metamarket cho phép chúng ta đẩy nhanh tất cả các quy trình có liên quan đến việc mua bán sản phẩm. Ví dụ, trang Edmunds.com là một thị trường ảo qua mạng, nơi bạn có thể tìm thấy thong tin về tất cả các lọai xe hơi để từ đó chọn lựa chiếc xe mà mình ưng ý nhất. Bạn có thể vay tiền ngân hàng hoặc mua bảo hiểm xe hơi ngay trên trang web này Một ví dụ khác — theknot.com, một metamarket dành cho những ai chuẩn bị lập gia đình. Bạn có thể tìm thấy tất cả mọi thông tin về áo cưới, thiệp mời, nhà hàng, du lịch tuần trăng mật, quà tặng, vv. và vv…

E-xecutive: Các chuyên gia marketing có thể đánh giá kết quả công việc của mình theo các chỉ số khối lượng và tài chính như thế nào? Anh ta chỉ cần thuyết phục giám đốc tài chính về tính khả thi của các họat động tiếp thị?

P.K.: Trong cuốn sách Marketing Models của tôi, tôi có đưa ra một số phương pháp cho phép đánh giá tính hiệu quả của các phương án tiếp thị khác nhau cũng như sự chuyển động của việc bán hàng, đương nhiên, sự đánh giá này hoàn toàn phụ thuộc vào từng lọai hình tiếp thị mà doanh nghiệp ứng dụng. Nó cho phép bạn nhìn nhận được thị trường mà bạn muốn nhắm đến họat động như thế nào. Còn các chỉ số tài chính,trước tiên tôi gọi nó là chỉ số hài lòng của người tiêu dùng mà ta có thể đánh giá bằng việc thăm dò ý kiến công chúng. Chẳng hạn như, bạn có thể đưa ra một số phương án: «rất thích», «thích», «bình thường», «không có ý kiến» vv.và vv. Cũng có thể đo được “giá trị cảm nhận” hàng hóa mà bạn tung ra thị thường. Ví dụ, khách hàng sẽ đưa ra nhận xét rằng, nhãn hiệu của bạn có chất lượng tốt hơn 20% so với sản phẩm của đối thủ. Năm sau, chỉ số này chỉ còn 10%, năm sau nữa – 5%. Như vậy, bạn cần phải cảnh giác. Tiếp đến, tôi gọi chỉ số mức độ thành công của sản phẩm mới: sản phẩm nào trong số hai sản phẩm tung ra thị trường thành công hơn, sản phẩm nào kém hơn hay cả hai đều có mức độ thành công, thất bại như nhau? Ngoài ra, bạn còn có thể thu thập thông tin từ bộ phận phân phối, bán hàng: có bao nhiêu cửa hàng bán sản phẩm của bạn; mất bao nhiêu thời gian để bán một món hàng?…Nói chung là có nhiều chỉ số để bạn có thể áp dụng.

E-xecutive: Ai cũng biết là 90% các sản phẩm mới không “sống sót” nổi trên thị trường, thậm chí trong quá trình xây dựng sản phẩm, người ta đã tốn không ít tiền bạc cho việc nghiên cứu sản phẩm. Trong những trường hợp như thế nào thì cần phải tiến hành những cuộc nghiên cứu thị trường một cách tốn kém như vậy, còn khi nào thì không?

P.K.: Các sản phẩm mới thất bại vì nhiều nguyên nhân, trong đó có sự lạc quan thái quá của chủ nhân tạo ra chúng, việc nghiên cứu thị trường không nghiêm túc, không chất lượng, sản phẩm tung ra không gặp thời, chính sách giá không hợp lý, sản phẩm cùng lọai của đối thủ tung ra cùng đợt….Tuy nhiên, sai lầm sẽ nghiêm trọng hơn, nguy hiểm hơn, nếu như bạn không tiến hành nghiên cứu thị trường trước khi quyết định tung sản phẩm.

Theo Bwportal

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png