10 tuổi làm CEO kiêm giảng viên

Cậu bé thần đồng người Malaysia dù chỉ mới 10 tuổi nhưng đã là một CEO kiêm giảng viên kiếm được cả nghìn USD cho mỗi giờ giảng dạy.

Adi Putra đang kiểm tra thư tại ngôi nhà ở bang Selango, Malaysia.Trong khi những đứa trẻ cùng tuổi khác đang học tiểu học và làm các phép tính đoan giản, cậu bé này đã làm CEO. Ảnh: Xin hua

Adi Putra Abdul Ghani hiện là CEO của 2 công ty, do mẹ mình là Serihana Alias sở hữu. Bà bán các loại vitamin, lấy tên Adi lãm nhãn hiệu. Ngoài ra, Adi còn là giảng viên với thù lao 6.000 ringgit, tương đương với 1.800 USD cho mỗi giờ dạy, tờ báo Sin Chew Daily và Nanyang Siang Pau của Malaysia cho biết.

Từ lúc còn nhỏ, Adi Putra đã nổi tiếng với trí thông minh nổi trội và trí nhớ xuất sắc, nhất là trong môn toán. Cậu bé cao 1,3 m này có thể đưa ra kết quả của phép tính 5 đến 7 con số chỉ trong 2 phút mà không cần dùng máy tính. Cậu cũng có thể dễ dàng nhớ một dãy gồm 40 chữ số và từng lập kỷ lục nhớ tới 70 chữ số. Ngay cả giáo sư đại học cũng phải đến tham vấn Adi về bí quyết ghi nhớ và mời cậu đến dạy ở trường đại học.

Adi Putra đáng lẽ sẽ đi học lớp 4 trong năm nay nhưng cậu đã từ bỏ trường học. Cậu bé hiện đối mặt với một số rắc rối chưa thể giải quyết. Một mặt, Adi không thích đến trường tiểu học nữa, nhưng mặt khác, cậu cũng không thể đến trường trung học hoặc đại học vì khó có thể giao tiếp được với các anh chị cùng lớp. Adi đang ở nhà tự nghiên cứu hóa học, vật lý, sinh học, ngoại ngữ, nhạc và các môn khác. Cậu bé lên mạng mỗi ngày để tìm thông tin về thương mại thế giới và tiền tệ. “Con tôi quan tâm đến môn toán, vật lý, địa lý và sinh học và không hào hứng lắm với lịch sử và chính trị. Nó ghét đọc sách nhưng thích dành thời gian lướt Internet để đọc tài liệu”, Serihana, mẹ của Adi cho biết.

Cậu bé thần đồng cảm thấy bị áp lực khi trở thành người nổi tiếng. Ảnh: thestar.com

Trở thành một giảng viên dạy các môn về đạo Hồi là ước mơ của Adi từ bé. “Adi mong muốn được đi học ở Canada, Singapore hoặc Mỹ. Nhưng chúng tôi vẫn chưa đi đến quyết định cuối cùng”, bà cho biết.

Được xem là thần đồng nhưng Adi vẫn chỉ là một cậu bé, thích chơi games, xem TV và chơi đùa cũng những đứa trẻ bằng tuổi. Cậu không thích nhìn thấy chính mình trên TV vì cảm thấy bị áp lực, tờ Tân Hoa Xã cho biết.

Vnexpress

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Top 5 điều hoang tưởng về SEO

SEO (Search Engine Optimization) là một nghệ thuật, một công việc hàng ngày và mang tính cạnh tranh cao. Không ít người hứa những điều không tưởng về kết quả công việc SEO đối với bạn và sau đây là 5 trong số đó.

1. Kết quả 24 giờ: Không ai có thể thấy được kết quả của công việc này chỉ trong vòng 24 giờ. Có rất nhiều lời quảng cáo từ phía các SEO mũ đen như “Lên top 10 chỉ trong vòng 8 giờ”. Theo kinh nghiệm của những chuyên gia SEO lâu năm, những “ông lớn” trong thị trường tìm kiếm – Google, Yahoo, MSN – đều mất tới cả ngày chỉ để đặt chỉ mục các trang web.

Google luôn là công cụ lôi kéo được nhiều chủ sở hữu trang web mới – cho dù thế nào đi nữa thì cuộc chiến thứ hạng tìm kiếm vẫn diễn ra thường xuyên. Hầu hết các nguyên nhân để mang đến thành công là nhờ việc xây dựng những liên kết có chất lượng và/hoặc những độc giả trung thành.

Tất cả những người làm SEO nói đến kết quả mang lại nhanh chóng là do họ phát tán các liên kết của trang web với tốc độ cao và điều này có thể mang đến kết quả ngược lại do các cỗ máy tìm kiếm liệt họ vào những trang web spam và loại bỏ khỏi các thuật toán tìm kiếm. Điều này không mang lại lợi ích lâu dài cho một trang web muốn vươn lên thứ hạng cao trong mắt các công cụ tìm kiếm.

2. Vị trí top là mãi mãi: Không có gì có thể đảm bảo vị trí của một trang web trước thứ hạng của công cụ tìm kiếm nếu như chất lượng của trang web vẫn chỉ dậm chân tại chỗ, và trang thứ hạng của trang web đó có thể mất bất cứ lúc nào vào tay các đối thủ của mình. Đây là điều chắc chắn bởi các trang khác luôn tìm cách để cải thiện thứ hạng của mình trong con mắt của công cụ tìm kiếm. Và cũng không có sự chắc chắn nào cho các vị trí trong trang kết quả đầu tiên.

Đối với những trang web mới, cần phải có một vài thủ thuật nhỏ để nhanh chóng đạt được những thứ hạng nhất định. Nhưng để lọt vào top 10 trong bảng kết quả thì đó là một công việc vô cùng khó khăn. Một vị trí tốt là một trang web có khởi đầu chậm chạp và lớn lên cùng với sự phát triển của trang web.

Xem chi tiết

2 danh sách các CEO nên xem mỗi sáng

Tôi đã đến muộn trong cuộc gặp với CEO của một công ty công nghệ và tôi đã mail cho ông ấy từ iPhone khi đang đi bộ trong thang máy ở tòa nhà của công ty ông.

ceo_2Tôi tập trung màn hình khi đi lên tầng 6. Tôi vẫn đánh với ngón tay cái của mình. Khi cửa thang máy mở, tôi bước ra ngoài nhưng lại không nhìn gì cả. Sau khi tôi nghe thấy một tiếng ai đó phía sau, “Đi sai cửa rồi, thưa ông”. Tôi nhìn lại phía sau người đàn ông, người đang giữ cửa mở để tôi trở lại, đó chính là CEO, một nụ cười tươi trên khuôn mặt. Ông ấy đã đi cùng cầu thang với tôi trong cả thời gian đó.

Thế giới chuyển động thật nhanh và ngày càng nhanh hơn. Quá nhiều công nghệ, quá nhiều thông tin, quá nhiều điều để nghĩ về nó và hành động. Một người bạn của tôi gần đây đã có được một công việc mới với vai trò là người đứng đầu nhóm phát triển ở một ngân hàng đầu tư quy mô trung bình. Vào ngày đầu tiên đi làm, cô ấy bật máy tính lên, nhập password mà công ty đưa cho và đã có 385 tin nhắn đang sẵn sàng chờ cô ấy.

Vì thế, chúng ta đang tăng tốc để phù hợp với bước đi của các hoạt động quanh ta. Chúng ta phải ở lại tới tận 3 giờ sáng để trả lời tất cả các email. Chúng ta vào twitter, facebook, và link-in. Chúng ta kiểm tra cẩn thận các website mới để chắc chắn rằng chúng ta luôn cập nhật những thông tin mới nhất. Và chúng ta giật mình mỗi khi nghe thấy tiếng bip bip hoặc tiếng “bum” của một tin nhắn mới.

Nhưng đó là một sai lầm. Tốc độ thông tin chóng mặt tác động mạnh đến chúng ta là điều không thể tránh khỏi nhưng đôi khi cố gắng bắt kịp nó thì lại phản tác dụng. Sóng đến càng nhanh thì chúng ta càng phải tính toán cẩn thận hơn để không bị cuốn đi. Nếu không thì chúng ta sẽ bị sóng đánh giống như những hạt cát rơi lả tả và bị lãng quên. Trước đây, chẳng bao giờ là quá quan trọng để quan tâm và biết cái gì là quan trọng.

Trước đây, chẳng bao giờ quan trọng khi nói “Không”. Không, tôi sẽ không đọc bài báo này. Không, tôi sẽ không đọc email kia. Không, tôi sẽ không gọi điện. Không, tôi sẽ không tham dự cuộc họp.

Nhưng thành công của chúng ta thực sự đang nằm ở vị trí đối diện: Sự sẵn lòng của chúng ta có nguy cơ phải chịu lỡ một số thông tin. Bởi vì cố gắng chú trọng tất cả sẽ gây rủi ro cho chính bản thân nó. Chúng ta sẽ kiệt sức, lung túng và dễ bực tức. Và chúng ta sẽ không nhìn thấy CEO đứng gần chúng ta trong thang máy.

Một nghiên cứu về tai nạn ô tô của Virginia Tech Transportation Institute đã đặt camera trong những ô tô để xem điều gì xảy ra trước khi có tai nạn. Họ nhận thấy rằng  80% tai nạn do người lái xe đã mất tập trung trong suốt 3 giây trước khi xẩy ra tai nạn. Mặt khác, họ thiếu tập trung, họ gọi điện thoại, thay đổi kênh radio, ăn bánh sandwich, kiểm tra tin nhắn…và không chú ý rằng mọi thứ đang thay đổi quanh chúng ta. Sau đó, họ đã gặp nạn. Thế giới đang thay đổi nhanh và nếu chúng ta không chú ý đến đường đi, không cưỡng lại được sự mất tập trung, thì chúng ta sẽ làm tăng cơ hội tai nạn.

Bây giờ là thời điểm tốt để tạm ngưng lại, ưu tiên và chú trọng đến một số vấn đề. Hãy làm 2 danh sách:

Danh sách số 1: Danh sách trọng tâm của bạn (con đường)

Bạn đang cố gắng để đạt được cái gì? Điều gì làm bạn vui? Điều gì quan trọng đối với bạn? Hãy thiết lập thời gian quanh những điều trên. Bởi vì thời gian là một nguồn có giới hạn và bạn không thể làm việc 25/8.

Danh sách 2: Danh sách những việc có thể lờ đi (sự mất tập trung)

Để thành công trong việc sử dụng thời gian của mình một cách thông minh, bạn phải hỏi những điều quan trọng tương đương nhau nhưng thường tránh những câu có tính bổ sung: Bạn không sẵn lòng đạt được điều gì? Điều gì không làm cho bạn thoải mái? Điều gì không quan trọng đối với bạn?

Một số người có danh sách đầu tiên. Một số có danh sách thứ hai. Nhưng tốt hơn nên đưa ra cách mà chúng ta dễ dàng mất tập trung và bao nhiêu điều phiền nhiễu chúng ta có, danh sách thứ hai quan trọng hơn. Các nhà lãnh đạo sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai để biết những câu trả lời cho các câu hỏi này và mỗi lần có một yêu cầu về mức độ tập trung họ cần đặt cho mình câu hỏi nên chú trọng hay lờ nó đi.

Điều đó có nghĩa là bạn không nên lập những danh sách một lần và sau đó là đặt chúng ở một ngăn kéo. Hai danh sách này là bản đồ của bạn cho mỗi ngày. Hãy xem chúng mỗi buổi sáng, rồi so với lịch của bạn và hỏi: Kế hoạch trong ngày hôm nay là gì? Tôi nên dành thời gian vào công việc nào? Sau đó, hãy tìm sự can đảm để làm chúng.

Sau khi CEO cười tôi ở thang máy, ông ấy nói với tôi về cuộc gặp. Đó là một cuộc hội tụ của tất cả những người giỏi, trong đó ông ấy là một và chủ đề của cuộc gặp là Doanh nhân của năm. Đây là một cuộc gặp dành cho cho ông ấy – Và trước khi ông bước vào, ông có hai quyết định chính xác: 1. Chú trọng vào bản thân cuộc họp. 2. Không kiểm tra điện thoại

—————

Vài nét về tác giả: Peter Bregman là người phát ngôn, tác giả và là nhà tư vấn.  Ông là CEO của Bregman Partners, Inc., một công ty tư vấn quản lý toàn cầu và cố vấn cho các CEO vào nhóm của họ. Ông còn là tác giả của cuốn Point B: A Short Guide To Leading a Big Change.

(SEMvietnam – Theo H.B.R)

George Bush cũng là một trong những “thủ phạm” của suy thoái kinh tế

Ngoài Bill Clinton, danh sách 25 nhân vật có “công” với suy thoái kinh tế còn có tên cựu tổng thống Mỹ George Bush và siêu lừa Bernard Madoff.


13. Marion và Herb Sandler

thupham-13

Vào đầu 1980, Ngân hàng Sandlers’ World Savings là nơi đầu tiên cung cấp những khoản vay mạo hiểm để mua bất động sản, với tên gọi vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), một dạng của vay dưới chuẩn. Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn để trả nợ và nhờ đó giảm bớt khoản tiền phải trả. Người đi vay sẽ phải chấp nhận rủi ro lãi suất tăng. Vào thời kỳ đầu khi vay, họ được hưởng lãi suất thấp hơn so với loại hình cho vay bình thường. Tỷ lệ vỡ nợ của loại hình cho vay này rất cao. Tuy vậy, Sandlers’ World Savings vẫn duy trì mô hình kinh doanh của họ thêm hai thập kỷ nữa bằng những quảng cáo gây nhầm lẫn. Cặp đôi Marion và Herb Sandler bỏ túi 2,3 tỷ USD khi họ bán Ngân hàng cho Wachovia. Năm 2008, đến lượt Ngân hàng Wells Fargo ôm gói thuốc nổ khi mua lại Wachovia.

14. George W. Bush

thupham-14

Các nhà đầu tư không biết phải nên cảm ơn hay oán trách cựu Tổng thống George Bush. Một mặt, ông đã ra nhiều quyết định cởi trói cho ngân hàng, các nhà môi giới thế chấp và sớm phát hiện, đề xuất các biện pháp kiểm soát chặt chẽ với hai đại gia cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac. Mặt khác, ông đã không thể thuyết phục Quốc hội đồng thuận với quan điểm của mình. Sau scandal của hãng năng lượng khổng lồ Enron, Bush đã ký duyệt đạo luật Sarbanes-Oxley nhằm bảo vệ nhà đầu tư và tạo những thay đổi quan trọng trong luật chứng khoán Mỹ kể từ sau Đại suy thoái 1930. Tuy nhiên, đạo luật này gần đây bị các nhà phân tích cho là đã cản trở tính cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp Mỹ. Và cuối cùng, chính Bush là người chứng kiến sự suy sụp của hệ thống tài chính Mỹ cũng như toàn thế giới trong cuộc khủng hoảng đang diễn ra.

15. Stan O’Neal

thupham-15

Stan O’Neal giữ chức CEO tại Ngân hàng Merrill Lynch trong vòng 6 năm, kết thúc nhiệm kỳ vào 2007. Từ một ngân hàng thân thiện, Merrill Lynch được O’Neal cải tạo thành một kẻ tham lam, lún ngày càng sâu vào canh bạc mua bán nợ thế chấp có bảo đảm, hầu hết trong số đó là trái phiếu thế chấp dưới chuẩn. Tính đến tháng 6/2006, trị giá trái phiếu dưới chuẩn và nợ thế chấp trong tay Merrill Lynch đã lên đến 41 tỷ USD. Khi thị trường dưới chuẩn suy sụp, Merrill Lynch rơi vào khủng hoảng và sau đó bị Bank of America thâu tóm là điều không làm ai ngạc nhiên.

16. Trung Quốc

thupham-16

Việc Trung Quốc góp mặt trong danh sách “thủ phạm” chứng tỏ vai trò ngày càng lớn của nước này đối với kinh tế thế giới. Với nguồn tài sản dồi dào, Trung Quốc đã mua quá nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ trong suốt 8 năm trở lại đây. Nước này trở thành chủ nợ lớn nhất của nền kinh tế lớn nhất thế giới với giá trị tài sản nắm giữ lên đến 1,7 nghìn tỷ USD.

17. David Lereah

thupham-17

Nếu một chuyên gia nào đó nói vu vơ rằng thị trường bất động sản sẽ ngày càng phát triển, nhà đầu tư sẽ ít nhiều hoài nghi. Tuy nhiên, tuyên bố này được chính David Lereah, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà Kinh doanh Bất động sản Mỹ phát ngôn nên người ta tin ngay lập tức. Ông nhắc đi nhắc lại trong các buổi phỏng vấn truyền hình rằng nhà đất là một kênh đầu tư đúng đắn. Ông thúc giục mọi người vay tiền mua nhà trong cuốn sách “Có phải bạn đã bỏ lỡ cuộc bùng nổ Bất động sản” xuất bản năm 2005. Năm 2006, ông cũng tỏ chút thái độ hoài nghi nhưng chỉ sang đầu 2007, ông khiến nhà đầu tư tiếp tục vay tiền mua nhà sau tuyên bố: “Thị trường bất động sản đã vượt đáy”.

18. John Devaney

thupham-18

John Devaney là đại diện tiêu biểu nhất cho giới đầu cơ. Các quỹ này đóng vai trò to lớn trong lĩnh vực mua bán tài sản thế chấp. Bằng việc mua lại các khoản nợ có tài sản thế chấp, Devaney và nhiều ông chủ quỹ đầu cơ khác đã kích thích vòng quay ngày càng phát triển. Chủ nợ cho khách hàng vay dưới chuẩn, rồi bán những tờ giấy nợ đó kiếm lời. Về phần mình, quỹ đầu cơ háo hức mua lại đống giấy này với hy vọng sẽ thu lại khoản lợi nhuận béo bở khi người vay trả tiền. John Devaney có hẳn một quỹ trị giá 600 triệu USD, chuyên mua lại các khoản nợ nguy hiểm. Tệ hơn, Devaney biết rõ những khoản vay này tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Vào đầu năm 2007, khi nói về vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh (ARM), ông từng phát biểu: “Chỉ có người điên mới đi mua lại những khoản vay này. Thế nhưng đây lại là lĩnh vực kinh doanh béo bở nhất của chúng tôi”.

19. Bernard Madoff

thupham-19

Vụ lừa đảo lịch sử trị giá 50 tỷ USD của Bernard Madoff đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngân hàng, quỹ đầu cơ, tổ chức tài chính lớn. Tổng cộng, số nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của Madoff lên đến 3 triệu người. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người Mỹ cảm thấy cay đắng nhất là Bernard Madoff đã diễn trò suốt nhiều thập kỷ ngay trước mũi các nhà chức trách. Sự thật này đã dẫn đến lòng nghi ngờ về trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo trong hệ thống tài chính Mỹ. Tâm lý lo ngại trong dân chúng khiến suy thoái trở nên càng tồi tệ hơn.

20. Lewis Ranieri

thupham-20

Lewis Ranieri được xem là “cha đẻ” của trái phiếu bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Vào cuối những năm 1970, Lew Ranieri là người đầu tiên dùng từ “chứng khoán hóa”, chỉ các khoản vay bất động sản được biến thành các giấy tờ có giá rồi bán cho nhà đầu tư tại Phố Wall. Đến năm 1984, Lew Ranieri khoác lác rằng việc kinh doanh tài sản thế chấp của ông tạo ra nhiều tiền hơn tất cả các giao dịch tại Phố Wall cộng lại. Quả thật thời kỳ hoàng kim của giao dịch trái phiếu bằng tài sản thế chấp bùng nổ vào đầu những năm 2000, vực Phố Wall khỏi thời kỳ làm ăn bết bát. Các hãng đầu tư được đà xông lên, đổ nhiều khoản tiền khổng lồ đặt cược vào chứng khoán loại hình này. Tuy nhiên, khi những người đi vay dưới chuẩn bắt đầu không trả được nợ, thị trường chững lại và giá trái phiếu xuống dốc không phanh. Vào thời điểm đó, các ngân hàng đầu tư đã nuốt quá nhiều món tài sản độc hại. Hệ quả tất yếu là ngân hàng lần lượt sụp đổ và các nhà đầu tư cùng nhau mất tiền.

21. Burton Jablin

thupham-21

Không chỉ các nhà kinh tế mà cả ông hoàng truyền hình của kênh Scripps Networks, Burton Jablinw cũng bị đổ trách nhiệm trong suy thoái tài chính. Là ông chủ của kênh HGTV và nhiều kênh khác, ông đã tiếp khá nhiều sức lực trong việc việc thổi căng trái bóng bất động sản. Với uy tín của mình, Jablin khiến các chương trình truyền hình về bất động sản được đón nhận nhiệt liệt ở 97 triệu hộ gia đình trên khắp nước Mỹ. Ông sản xuất các chương trình ăn khách như “Trang trí nhà cửa trước khi bán” hay “Nhà tôi trị giá bao nhiêu” khiến khán giả phát cuồng và càng đam mê đổ tiền vào bất động sản.

22. Fred Goodwin

thupham-22

Giới đầu tư và bình luận thế giới ưu ái dành cho ông chủ của Royal Bank of Scotland (RBS), nhiều biệt danh như “nhà ngân hàng tệ nhất thế giới”, hay “người hoang tưởng”, hay thậm chí là “kẻ tham lam”. Chủ trương của ông mua lại tất cả các ngân hàng và định chế tài chính có thể, bất chấp hiệu quả kinh tế. Kết quả tích cực là không lâu sau khi nắm quyền, ông đã biến RSB từ một ngân hàng tỉnh lẻ đột ngột ngoi lên trở thành một trong năm ngân hàng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, khi kinh tế toàn cầu dần u ám vào năm 2007, ông vẫn quyết tâm mua lại đối thủ là Ngân hàng Hà Lan ABN Amro, dù cái giá 100 tỷ USD không hề rẻ. Vụ mua bán đã làm ngân khố của RSB cạn kiệt, trong khi Amro đã chứng tỏ là miếng mồi quá lớn, ngoài khả năng tiêu hóa của RBS. Kết quả là mùa thu năm ngoái, chính phủ Anh phải rót 30 tỷ USD cho ngân hàng này. Năm 2008, RSB là ngân hàng có thua lỗ lớn nhất nước trong lịch nước Anh.

23. Sandy Weill

thupham-23

Ban đầu chỉ là ngân hàng cho vay cấp thấp, Citigroup đã phát triển vượt bậc trở thành tập đoàn tài chính lớn nhất nhì của nước Mỹ dưới tay Sandy Weill. Tuy nhiên, cùng với cựu Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ Phil Gramm, ông là người đã đứng ra vận động hàng lang hủy bỏ luật Glass-Steagall. đạo luật hạn chế các ngân hàng tham gia những hoạt động kinh doanh rủi ro. Kết cục mà Citigroup nhận lấy ngày hôm nay là trở thành một trong những khối rắc rối lớn nhất của chính phủ Mỹ. Do đó, cho đến nay chính phủ Mỹ đã phải rót 45 tỷ USD để duy trì sự sống cho Citi, với quyết tâm không thể để tập đoàn này phá sản.

24. David Oddsson

thupham-24

Trong hai thập kỷ nắm cương vị Thủ tướng Iceland và sau đó là Thống đốc Ngân hàng Trung ương, David Oddsson đã lấy đất nước nhỏ bé của ông ra làm vật thí nghiệm cho lý thuyết về kinh tế thị trường. Ông tư nhân hóa 3 ngân hàng lớn nhất, áp dụng chính sách thả nổi tiền tệ, và tạo ra thời kỳ vàng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thí nghiệm của David Oddson đã thất bại và Iceland phá sản vào năm 2008. Giờ đây, quốc gia nhỏ bé này vinh dự được cho vào sách giáo khoa kinh tế, minh họa cho mục “đóng băng kinh tế vĩ mô”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc để giúp vực dậy tiền tệ nước này, vốn đã mất một nửa giá trị.

25. Jimmy Cayne

thupham-25

Trong khi nhiều CEO Phố Wall đang quay cuồng trong cơn bão tài chính, có một người dường như vẫn còn mơ ngủ là CEO Jimmy Cayne của Ngân hàng Bear Stearns. Ông vẫn ung dung dùng trực thăng đi đánh golf hơn 3 ngày trời hay đều đặn tham gia các cuộc thi đấu thể thao. Thậm chí người ta còn bắt gặp Cayne sử dụng chất kích thích. Hai quỹ đầu cơ lớn của Bear Stearns đã sụp đổ vào giữa năm 2007. Ngoài ra, tập đoàn này còn nắm giữ hơn 40 tỷ trái phiếu tài sản thế chấp hầu như đã vô giá trị. Vào đầu năm 2008, Ngân hàng Bear bị bán cho JPMorgan với cái giá còn bèo bọt hơn giá trị của tòa nhà dùng làm văn phòng công ty.

( SEMvietnam – Theo Time, Vnexpress )


Những “thủ phạm” của suy thoái kinh tế

Trong số 25 cái tên được điểm, có cả những nhân vật như 2 vị cựu tổng thống của Mỹ là Bill Clinton, George Bush và CEO các tập đoàn tài chính có ảnh hưởng nhất nước Mỹ.

Khi suy thoái tài chính thế giới dường như đã chạm đến đáy, người ta có thời gian kiểm nghiệm lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến thảm họa kinh tế lớn nhất kể từ những năm 1930. Báo cáo về 25 nhân vật có “công” lớn nhất đối với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay vừa được tạp chí Time công bố.

1. Angelo Mozilo

thupham-1

Là con trai của một người bán thịt, Mozilo trở thành đồng sáng lập Công ty Countrywide vào 1969 và nhanh chóng biến nó trở thành nhà cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ. Trong “phong trào” cho vay thế chấp dưới chuẩn, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ. Sau khi bong bóng bất động sản tan vỡ, những món nợ khó đòi khiến Countrywide là một trong những công ty thua lỗ và sa thải nhân công sớm nhất. Mozilo bị dư luận và Quốc hội Mỹ chỉ trích mạnh mẽ khi vẫn điềm nhiên nhận khoản tiền thưởng hậu hĩnh khi kinh doanh thất bát. Đầu 2008, Mozilo ra đi sau khi bán Countrywide cho Bank of America lấy 4 tỷ USD.

2. Phil Gramm

thupham-2

Phil Gramm ngồi ghế Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ cho đến năm 2000. Năm 1999, Thượng nghị sĩ Phil Gramm hô hào bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall Act lập từ sau Cơn Đại Suy thoái 1930. Đạo luật này tách bạch vai trò của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, xuất phát từ quan điểm ngăn ngừa các ngân hàng đem tiền gửi của người dân “nướng” vào các canh bạc chứng khoán. Tuy nhiên, nhờ “công lao” của Phil Gramm, nó đã bị bãi bỏ và thay bằng Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai áp dụng từ năm 2000. Sản phẩm của Phil Gramm hủy bỏ sự kiểm soát của Ủy ban Giao dịch Tương lai Mỹ đối với các giao dịch phái sinh OTC như hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Phil Gramm nhanh chóng được các ngân hàng đầu tư tung hô. Tuy nhiên chỉ 8 năm sau, chính hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã hạ gục nhiều nạn nhân, trong số có nhà bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG. Tuy nhiên, hồi tháng 1/2009, ông Phil Gramm đã lên tiếng phản đối vai trò của ông trong suy thoái.

3. Alan Greenspan

thupham-3

Cựu Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan là một chuyên gia kinh tế dày dạn kinh nghiệm trên thương trường và là học trò cưng của nhà lý luận nổi tiếng người Mỹ Ayn Rand. Sau khi chèo chống vượt qua thời kỳ chứng khoán đen tối năm 1987 và đạt thành công vang dội suốt những năm 1990, ông được toàn nước Mỹ phong tặng danh hiệu Thầy phù thủy. Tuy nhiên, nguy cơ dần nảy nở từ đầu năm 2000, khi Greenspan áp dụng mức lãi suất siêu thấp và bãi bỏ sự kiểm soát đối với các định chế tài chính lớn. Hồi tháng 10 năm ngoái, ông phải cay đắng thừa nhận trước Quốc hội Mỹ rằng mình đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng khi ngộ nhận các hãng tài chính có thể tự kiểm soát hoạt động của họ.

4. Chris Cox

thupham-4

Cựu Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) Chris Cox có thể viện cớ quanh co để phủ nhận vai trò của ông trong vụ lừa đảo lịch sử Bernard Madoff. Tuy nhiên, giới đầu tư không chấp nhận bất cứ bào chữa nào về sự tắc trách khi ông còn đương chức. Cox biện hộ rằng SEC không đủ quyền hành để hạn chế sự lạm dụng đòn bẩy tài chính, vốn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Tuy nhiên, sự thật là Ủy ban Chứng khoán Mỹ hoàn toàn có khả năng nắm thông tin hoạt động của những ngân hàng lớn như Lehman Brothers và Merrill Lynch.

5. Người tiêu dùng Mỹ

thupham-5

Chính người tiêu dùng Mỹ cũng bị liệt vào hàng “thủ phạm” trong suy thoái toàn cầu. Người Mỹ bắt đầu chính sách thắt lưng buộc bụng từ quý III/2008 do lo sợ kinh tế sẽ yếu đi. Trong khi suốt 40 năm trước đó, thị trường Mỹ đã quen với phong cách thoải mái chi tiêu của người dân. Họ vay mượn để mua sắm, vay mượn để tiêu dùng và đặt niềm tin mãnh liệt vào sự giàu có của nước Mỹ. Tuy nhiên, vào thời điểm bong bóng chứng khoán và bất động sản tan vỡ cuối năm 2007, nợ tiêu dùng của người dân đã lên đến 130% so với mức thu nhập trung bình. Hàng triệu người Mỹ vỡ nợ và nhận ra họ đã không giàu có như đã tưởng.

6. Hank Paulson

thupham-6

Khi Hank Paulson rời ghế Chủ tịch Goldman Sachs để trở thành Bộ trưởng Tài chính Mỹ năm 2006, mối bận tâm lớn nhất của ông là làm thế nào để gây ảnh hưởng càng lớn càng tốt. Cuối cùng ông đã thành công, tuy nhiên đó không phải là ảnh hưởng tích cực. Vào cuối thời tổng thống Bush – con, ông đã một tay thao túng toàn bộ nền kinh tế Mỹ bằng các chính sách kinh tế. Kết quả của chúng là 3 sai lầm đã được các nhà phân tích đúc kết lại. Sai lầm đầu tiên là ông đã chậm chân trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Sai lầm nghiêm trọng tiếp theo của Hank Paulson là để Ngân hàng Lerman Brothers sụp đổ. Cuối cùng, người ta gọi gói cứu trợ tài chính trị giá 750 tỷ USD của vị cựu Bộ trưởng Tài chính chỉ là một đống hỗn độn tốn kém.

7. Joe Cassano

thupham-7

Trước khi ngành tài chính Mỹ đóng băng, ít người biết đến khái niệm hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS). Đó là một loại hợp đồng bảo hiểm, trong đó một bên trả cho bên kia khoản phí để đổi lại được nhận bồi thường trong trường hợp vỡ nợ trái phiếu. Một trong số những người hiểu rất rõ bản chất của công cụ này là Joe Cassano, thành viên sáng lập bộ phận đầu tư tài chính của tập đoàn bảo hiểm AIGTrong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ. Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín dụng vùn vụt tăng cao. Cho đến nay, chính phủ Mỹ đã phải chi đến hơn 150 tỷ USD để duy trì sự sống cho AIG với quyết tâm không thể để tập đoàn này sụp đổ

8. Ian McCarthy

thupham-8

Ian McCarthy được xem là thủ phạm lớn trong vụ sụp đổ thị trường nhà đất ở Mỹ. Là CEO của Công ty Bất động sản Beazer Homes, ông đã cho xây quá nhiều nhà, vượt ngoài khả năng tiêu hóa của người Mỹ. Để tiêu thụ hết số nhà đó, Ian McCarthy đã dùng đến vài mánh khóe. Một trong số đó là chiêu dối trá về khả năng trả nợ của khách hàng, khiến nhà băng sẵn sàng cho họ vay tiền mua bất động sản. Vụ việc của Ian McCarthy đang được FBI, Cơ quan phát triển Nhà của Mỹ và Cơ quan thuế IRS phối hợp điều tra.

9. Frank Raines

thupham-9

Người khai sinh ra Ngân hàng Fannie vào năm 1938 là Quốc hội Mỹ và người đưa thành công đến với ngân hàng này là cựu Chủ tịch Jim Johnson. Còn thủ phạm chính khiến Fannie trở thành mối họa với kinh tế Mỹ là người kế nhiệm Jim Johnson, CEO Frank Raines. Frank Raines từng đứng trong bộ máy ngân khố thời Bill Blinton, và ông là CEO gốc Phi đầu tiên nằm trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. Sau khi rời Ngân hàng vào 2004 sau một scandal, ông để lại sau lưng một mối họa tiềm ẩn với nền kinh tế Mỹ. Năm 2008, thua lỗ của Fannie cùng bạn đồng hành Freddie Mac đã lên đến 100 tỷ USD mỗi năm và bị buộc phải nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Mỹ.

10. Kathleen Corbet

thupham-10

Corbet là người điều hành tổ chức đánh giá tín nhiệm lớn nhất và uy tín nhất nước Mỹ là Standard & Poor’s suốt một thập kỷ. Lợi dụng uy tín của mình, Kathleen Corbet đã dán nhãn “chất lượng cao” lên những khoản vay rủi ro nhất, khuyến khích nhà đầu tư lao đầu vào mua các giấy nợ đảm bảo bằng tài sản. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, những tờ giấy nợ này biến thành giấy loại không hơn không kém. Tiền là lý do duy nhất khiến bà làm ăn thiếu trách nhiệm. Một số nhà phát hành chứng khoán trả tiền cho Kathleen Corbet để cổ phiếu yếu kém của họ được chính S&P đảm bảo.

11. Dick Fuld

thupham-11

Từng nổi tiếng với biệt danh Gorilla của Phố Wall, CEO Dick Fuld là người có công đầu trong việc nhấn chìm Ngân hàng Lehman Brothers trong những phi vụ kinh doanh thế chấp dưới chuẩn. Lehman rót vốn cho các ngân hàng. Sau đó, đến lượt những ngân hàng này cung cấp khoản vay cho những người không có khả năng trả nợ. Lehman biến tiền thành trái phiếu và chuyển cho nhà đầu tư hàng tỷ USD nợ xấu. Trước khi Lehman phá sản, Dick Fuld nhanh tay tự thưởng cho mình 500 triệu USD.

12. Bill Clinton

thupham-12

Nước Mỹ ở trong thời kỳ kinh tế thịnh vượng những năm Tổng thống Bill Clinton “trị vì”. Tuy nhiên, ông là người có công bãi bỏ và lập ra nhiều đạo luật, vốn làm nền móng cho những rắc rối gần đây. Năm 1999, ông quyết định bỏ luật Glass-Steagall Act, bài học sau thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930. Một năm sau đó, ông ký duyệt Đạo luật Hiện đại hóa Giao dịch Tương lai. Hành động này đã cởi trói cho Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng. Năm 1995, Clinton nới lỏng quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng. Điều luật gia tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà. Các nhà phân tích vẫn đang không ngớt tranh cãi về vai trò của vị cựu tổng thống trong việc tạo ra một môi trường cho vay đầy rủi ro.

(Còn tiếp)

Nhà Trắng công bố tài sản gia đình Obama

Ngày 16/5 Nhà Trắng đã chính thức công bố tài sản hiện có của Tổng thống Mỹ Barack Obama và đệ nhất phu nhân Michell Obama là từ 1,4 đến 5,9 triệu USD chưa kể giá trị ngôi nhà của phu nhân Michell ở Chicago và tài khoản ở ngân hàng trị giá 265.000 USD.

Theo thông tin từ Nhà Trắng, phần lớn tài sản hiện có của gia đình Tổng thống Obama là từ sách. Ngay từ khi ra đời hai cuốn sách của Tổng thống Obama mang tên “Ước mơ của cha tôi” và “Sự táo bạo của hy vọng” đã bán rất chạy, nhờ đó mà Tổng thống Obama đã nhận được khoản nhuận bút 2,5 triệu USD.

Số tiền nhuận bút này còn cao hơn cả tổng số lương và phụ cấp của Tổng thống Mỹ cộng lại trong suốt nhiệm kỳ 4 năm. Hiện mức lương và phụ cấp của Tổng thống Mỹ hàng năm là 400.000 USD.

Cuốn sách đầu tiên “Ước mơ của cha tôi” là cuốn tự truyện của Tổng thống Obama đã được xuất bản từ năm 1995 sau khi ông trở thành Chủ tịch của trường Đại học nổi tiếng nhất nước Mỹ Harvard, sau đó cuốn sách lại được  tái bản năm 2004 trước khi Obama bước vào vũ đài chính trị.

Cuốn sách này đã nhận được giải thưởng Galaxy British Book Awards của Anh như một cuốn tự truyện hay nhất.

obama

Ngoài ra, Tổng thống Obama cũng đã nhận được giải thưởng sau khi công bố cuốn sách thứ hai “Sự táo bạo của hy vọng” xuất bản năm 2006. Đây là một trong những cuốn sách bán chạy nhất. Trong cuốn sách này, Tổng thống Obama đã đề cập tới vấn đề toàn cầu, khủng hoảng kinh tế và cách thoát khỏi khủng hoảng.

Được biết, vào tháng 4/2009 gia đình Tổng thống Obama cũng đã chính thức công bố mức thu nhập của mình, trong đó phần lớn thu nhập có được là nhuận bút của hai cuốn sách bán chạy nhất hiện nay. Do đó, Obama thường được gọi là Tổng thống lương cao nhất.

( SEMvietnam – Theo VTC )

Có hay không các nhà tỷ phú “bẩm sinh”?

Nếu bạn không có may mắn được lọt vào danh sách những người mà đại tỷ phú trong lĩnh vực giải trí Donald Trump gọi là có số “giàu từ trong trứng”, nghĩa là bạn không được sinh ra trong một gia đình giàu có, thì ít nhất bạn cũng đã một lần nghĩ đến việc làm thế nào để giàu lên được. Cũng có thể, bạn đã từng nghĩ làm thế nào để kiếm được 1 triệu đầu tiên, hoặc làm thế nào để nhanh chóng có bạc tỷ.

Nếu bạn từng nung nấu ý tưởng này thì trước khi bắt tay vào biến nó thành hiện thực hãy tự đánh giá mình một cách thật khách quan xem bạn có sở hữu những phẩm chất cá nhân giống như ở các nhà tỷ phú thế giới hay không.

Nhìn và thấy

Những người tự tay làm nên bạc tỷ như Bill Gates hoặc Warren Buffet, thực chất là những nhà cách mạng. Nhà cách mạng ở đây được hiểu theo nghĩa họ không chỉ đạt được sự vượt trội trong một ngành công nghiệp nào đó, mà còn thực hiện các cuộc cải tổ mang ý nghĩa cách mạng đối với ngành đó. Để làm được điều vĩ đại ấy, tất nhiên là họ phải có trí tuệ, sự dũng cảm và cả yếu tố may mắn. Nhưng, ngần ấy thứ dường như vẫn là chưa đủ. Yếu tố cốt lõi mang đến cho họ thành công chính là khả năng nhìn xa trông rộng và nhữn phán đoán mang tính tiên tri.

Gerald Kraines, Giám đốc điều hành Levinson Institute nhận định rằng những tỷ phú tự mình làm nên cơ nghiệp đều có khả năng đoán trước được tương lai phát triển của sự việc và thấy được điều phần đông người khác không thể thấy.

Cách đây vài năm, các giáo sư trường Harvard Business School là Antony Maijo và Nitin Noria đã lập ra danh sách 100 nhà lãnh đạo kinh doanh kiệt xuất nhất nước Mỹ thế kỷ 20. Trong đó, từng nhân vật được xem xét trong một bối cảnh lịch sử nhất định và nghiên cứu mối quan hệ giữ những sự kiện xảy ra vào thời điểm đó với hoạt động của từng người. Kết quả là, các giáo sư đã xác định được nhân tố then chốt làm nên thành công trong kinh doanh của phần đông các nhà lãnh đạo chính là khả năng phản ứng một cách hiệu quả với thực tiễn.

Maijo đã định nghĩa trí tuệ như là khả năng hiểu được ở tầm vĩ mô các nhân tố xảy ra ở một thời điểm nào đó. Nghĩa là thành công trong kinh doanh và bạc tỷ chỉ đến với những người có khả năng nắm bắt được những xu thế đang nảy sinh và sử dụng được sức mạnh của những thay đổi.

Tự tin hay tin vào chính mình

Trong khi sự tự tin có thể dẫn đến những kết cục buồn thảm thì sự tin tưởng vào sức mạnh nội lực và sự đúng đắn của bản thân lại là một nét khá đặc trưng của tất cả các tỷ phú. Sự tin tưởng này giống như sức mạnh để đạt được mục đích đề ra. Piter Skarzinki, Giám đốc tập đoàn tư vấn Strategos từng khẳng định tất cả các tỷ phú đều có một điểm chung là họ luôn có một niềm tin vững chắc rằng họ đã tìm được phương pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề nào đó.

Ngoài ra, các tỷ phú còn có một phẩm chất khác là sẵn sàng mạo hiểm. Công việc kinh doanh càng phát triển thì tỉ lệ rủi ro càng tăng. Điều này có nghĩa là nhà tỷ phú không được phép sợ hậu quả có thể xảy đến.

Tâm lý giàu có

Tiến sỹ Sedney Lekker, nhà tâm lý nhiều năm làm việc với các nhà kinh doanh và chuyên gia cao cấp từng nghiên cứu phẩm chất của những người giàu và viết nên cuốn sách đắt giá “The Money Personality”. N.Y.: Simon & Schuster. 1979. Trong công trình của mình, ông sử dụng thuật ngữ «money personality», hiểu nôm na là một nhân cách có thể “hút” được tiền về phía mình. Trả lời câu hỏi về việc những nhân cách này có khác người thường không, Lekker khẳng định ngay rằng rất khác, thậm chí hoàn toàn khác. Ông đã đưa ra 7 khả năng khác biệt của những người “đông tiền”. Đó là:

1. Những  người này không sợ cái “to lớn”. Họ không hề ngại phải làm việc với những con số lớn, những dự án lớn, không ngại phải làm việc với những người cao lớn hay một nhân cách lớn.

2. Họ luôn biết cách đặt ra những mục tiêu đơn giản. Họ biết mục đích và sứ mệnh kinh doanh của mình và hoàn toàn không bị sao nhãng bởi những nhiệm vụ không liên quan đến việc phát triển kinh doanh.

3. Tất cả những người này đều có khả năng tư duy hết sức đặc biệt “không phụ thuộc vào trường sinh học”. Nói cách khác, họ không bị lúng túng bởi những tiểu tiết vụn vặt trong quá trình thảo luận và lập kế hoạch. Trong khi những người bình thường nhìn thấy sự lộn xộn hoặc các số liệu phức tạp thì những cá nhân thành đạt trong kinh doanh lại rất nhanh chóng rút ra được những thông tin cần thiết từ mớ bòng bong.

4. Những nhân cách «Money personalities» còn khác với người thường ở khả năng tư duy trừu tượng rất phát triển. Họ có khả năng chỉ dùng tư duy “mường tượng” để lên kế hoạch và điều khiển các công việc liên quan đến xây dựng nhà máy, sản xuất, thậm chí là hoạt động bán hàng.

5. Họ có khả năng thích ứng nhanh với cái trừu tượng và tiến lên phía trước ngay cả khi chưa có đủ thông tin. Nhờ đó, họ thường là những người về đích trước người khác. Từ đây, họ được số đông ngưỡng mộ, tôn trọng và mong muốn được theo họ.

6. Một nét đặc trưng khá quan trọng nữa của những người thành đạt trong kinh doanh là ý thức trách nhiệm cao. Mặc dù họ hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc điều khiển ý chí của người khác, nhưng cũng luôn ý thức được rằng không ai có thể điểu khiển ý thức trách nhiệm. Vì thế, nếu ở đâu đó công việc không được suôn sẻ thì những người này luôn biết rằng đó là công việc và trách nhiệm của họ. Họ không có thói quen đổ lỗi cho người khác.

7. Đặc điểm cuối cùng là họ không bao giờ cảm thấy hối hận vì đã quá say mê đến thành công. Họ luôn hài lòng với ý nghĩ rằng họ là những người kiệt xuất và có quyền sở hữu lượng tài sản “kiệt xuất”, thậm chí là nhiều hơn thế.

Nếu tổng hợp các đặc điểm này lại, chúng ta có thể dựng được chân dung của một người luôn tin vào bản thân và tin vào việc anh ta là người sở hữu xứng đáng đối với tất cả khả năng và sự sung túc do đồng tiền đem lại.

Tự khẳng định lại lần nữa

Nếu bạn vẫn chưa tìm được câu trả lời thì hãy tự hỏi mình một lần nữa. Ví dụ như bạn có khả năng đưa ra những quyết định cứng rắn và phi thường vì sự phát triển trong kinh doanh không? Nếu để làm điều đó bạn có sẵn sàng đi ngược lại với ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp hoặc những người đã cùng chung tay khởi nghiệp với bạn?

Bạn đánh giá sự độc lập của mình cao đến đâu? Bạn sẵn sàng thể hi sinh những gì? Lưu ý rằng,  việc kinh doanh càng phát triển thì lịch công tác và quyết định của bạn càng ngày càng ít phụ thuộc vào bạn. Đấy là chưa kể bạn còn có các các nhà đầu tư, các cổ đông và hội đồng quản trị. Bạn sẽ phải xem xét quyết định của họ.

Bạn đã sẵn sàng xuất hiện trước công chúng? Nếu chỉ nghe nhắc đến đám đông, đầu gối bạn đã run lên thì lúc đó ai sẽ là người giới thiệu công ty bạn tới công chúng? Và ai sẽ là người thay bạn phát biểu trước các cuộc họp tại hội đồng quản trị và trả lời phỏng vấn báo đài?

Và điều cuối cùng, bạn đã chuẩn bị tâm lý cho việc vì lòng say mê lao động, vì thành tích và tài sản của bạn, người ta sẽ không những không kính trọng mà còn nghen ghét, ganh tỵ?

( SEMvietnam – Theo Lanhdao)http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Giám đốc điều hành tuổi 26

Ephren W.Taylor II được tạp chí The Michigan Chronicle bình bầu là một trong 10 người đem lại những thay đổi mang tầm cỡ toàn cầu. Anh là giám đốc điều hành (CEO) người Mỹ gốc Phi trẻ nhất thế giới.

ephren-wtaylor-iiThe Michigan Chronicle là một tạp chí dành cho người Mỹ gốc Phi có trụ sở tại Michigan, Mỹ.

Ở tuổi 26, Ephren W.Taylor II đã là lãnh đạo một công ty chuyên đầu tư vào các dự án kinh doanh mang tính xã hội như dự án nhà ở giá rẻ khu Clevelan và Kansas của các gia đình công nhân. Đồng thời, anh còn kiêm chức giám đốc điều hành của công ty City Capital, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư vào các dự án tái sinh đô thị và khoan dầu.

Công ty anh lãnh đạo có tên City Capital Corporation. Anh được người dẫn chương trình Tom Joyner đặt cho cái tên đầy kính trọng “pho sử sống”, vì chàng trai tài năng này bắt đầu kinh doanh từ năm… 12 tuổi. Bước sang tuổi 17, Ephren W.Taylor II đã gây dựng nên công ty có giá trị nhiều triệu đô la Mỹ.

Biết lập trình từ năm 13 tuổi

Ephren kể: “Mọi sự bắt đầu khi tôi nài nỉ mẹ mua cho một đĩa trò chơi điện tử. Thời ấy, mặc dù đã có hệ thống chơi qua video, nhưng quanh đi quẩn lại tôi cũng chỉ biết chơi trò Super Mario và vài trò Mario khác. Một ngày kia, tôi ngáp dài và xin mẹ mua thêm trò gì đó mới lạ, mẹ lại trả lời thản nhiên như không: “Sao con không tìm cách tự chế ra trò chơi cho mình nhỉ?”.

Tôi mò tới hiệu sách và nhìn thấy cuốn dạy lập trình, sáng tác trò chơi điện tử của tác giả André Lamothe, có tựa đề: “Cách tạo trò chơi điện tử trong vòng 21 ngày”. Giá của cuốn sách là 39 đô la Mỹ.

Tôi bảo mẹ: “Mẹ mua cho con cuốn này đi!”, mà không hề biết rằng để học được theo sách, tôi cần có máy tính, biết một chút cơ sở về lập trình và phải giỏi toán, lý để hiểu được những điều trình bày trong cuốn sách”.

Thế là, ngày ngày, cứ sau giờ học ở trường, Ephren lại chui vào phòng máy tính, giở sách ra và miệt mài đọc rồi thử nghiệm trên màn hình. Anh đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, cho tới khi bắt đầu vỡ vạc ra, thế nào là lập trình.

Ephren đã tạo ra một trò chơi có tên “Clone of Pong” nhạt toẹt, bởi đó là một sự bắt chước vụng về của trò Asteroids. Sau đó, Ephren quyết định nghĩ ra trò chơi dạng 3D, những kiến thức đọc được ở chương cuối của cuốn sách.

Anh mất hai tuần để hoàn thành. Có người nhìn thấy sản phẩm đó và hỏi mua với giá 10 đô la cho một bản copy. Thế là Ephren bắt đầu bán đĩa trò chơi do mình tự làm ra.

Anh khao khát được trở thành một Bill Gates da đen hay Michael Jordan (cầu thủ bóng rổ nổi tiếng thế giới). Trong khi Michael Jordan kiếm được 90 triệu đô la Mỹ, còn Bill Gates có trong tay những 90 tỉ đô la. Ước muốn đó dường như quá xa vời với Ephren lúc bấy giờ.

Tiếp xúc với máy tính để tạo ra trò chơi điện tử, Ephren có dịp bước vào thế giới huyền diệu của Internet. Anh nhận ra rằng, đây là nơi có thể kiếm ra tiền, và lập nên công ty thiết kế trang web.

Lúc đầu, anh lấy có 200 đô la cho một trang web, nhưng không lâu sau, anh nhận thấy cái giá đó quá “bèo” so với các đồng nghiệp. Thế là, Ephren bắt đầu tăng giá. Anh nghiền không biết bao nhiêu sách lập trình để lập trò chơi điện tử và trở thành đối tượng săn tìm trên các diễn đàn mạng.

Ở đó, Ephren đăng ký là một công ty trách nhiệm hữu hạn (để làm được Ephren lại phải mày mò đọc tài liệu về cách lập vốn, điền biểu bảng thuế, vì anh chẳng quen luật sư nào cả), và nghĩ cho phần mềm một cái tên gọi là Flame Software.

Sau khi nhận được 3.800 đô la tiền công, anh nghĩ bụng, “người sử dụng phần mềm đó được hưởng những 800.000 đô la, thế thì tại sao mình không tự sở hữu một công ty nhỉ?”.

16 tuổi trở thành triệu phú

Năm 16 tuổi, Ephren W.Taylor II “bước qua vạch 7 con số” để trở thành triệu phú, khi cùng với bạn tên Michael Stahl lập nên một trang web kết nối các học sinh trung học và đại học muốn tìm việc làm và các công ty cần tuyển nhân lực, mang tên GoFerretGo.com.

Không có sẵn nhiều tiền để quảng cáo và lăng xê trang web, họ quyết định đăng tin trên các tờ báo địa phương, thông báo về việc công ty khai trương. Chẳng bao lâu, có tới 30.000 người tìm tới trang web GoFerretGo.com.

Lúc đầu, hai chàng trai cũng lại quá rộng rãi với khách hàng: họ chỉ đòi giá 38 đô la cho một thông báo tìm việc làm tới khi biết rằng, các đối thủ cạnh tranh như Sprint, Citigroup và Pizza Hut sẵn sàng trả một số tiền gấp cả trăm lần như thế để săn tìm các tài năng trẻ.

Ephren W.Taylor II và Michael Stahl liền thuê văn phòng và thậm chí thuê cả thầy giáo dạy lịch sử ngày trước đến làm việc ở công ty. Tới năm 2001, công ty bị giải thể vì tình trạng khủng hoảng công nghệ, nhưng vào thời kỳ đỉnh cao, định giá của công ty lên tới con số 3,5 triệu đô la.

Ephren W.Taylor II không chỉ là nhà kinh doanh, anh còn là một thuyết trình gia. Anh thường xuyên tới các trường đại học, trường phổ thông và gặp gỡ với các cấp chính quyền địa phương để bàn về các vấn đề liên quan tới cuộc sống thành thị.

Cuốn sách đầu tiên của anh mang tựa đề “Creating Success from the Inside out” là một cuốn sách bán chạy nhất cho các độc giả là các tổng giám đốc.

(Theo Tienphong)http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

George Soros – kẻ khuynh đảo thị trường tài chính thế giới

Chỉ vài tháng trước khi kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, tỷ phú Soros nhận định, hệ thống tài chính đang ở trong tình trạng “siêu bong bong” và chỉ chờ ngày vỡ.

sorosgeorgeTrong cuốn sách mang tên “Mô hình mới của thị trường tài chính” (tạm dịch từ The new paradigm for financial markets), Soros mô tả hiện tượng “siêu bong bong” trên thị trường tài chính đã hình thành trong suốt 25 năm qua và chỉ ngày vỡ. Đây là cuốn thứ ba trong một series sách của Soros đề cập đến thảm họa đối với thị trường tài chính. Trong đó, tỷ phú đầu cơ viết một cách ẩn dụ: “Tôi đã đếm số lần sói tru. Lần đầu tiên là trong cuốn ‘Thuật giả kim của thị trường tài chính’, lần thứ hai là cuốn ‘Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu’ và lần thứ ba là trong cuốn sách này. Sau 3 lần sói tru, con sói thực sự sẽ đến”.

Tỷ phú cũng nhận định, hiện chưa có triển vọng về việc tìm ra giải pháp trong ngắn hạn cho cuộc khủng hoảng tài chính. Soros cũng là người công khai phản đối mạnh mẽ nhất kế hoạch của cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các định chế tài chính.

Sự nghiệp của Soros có nhiều mảng tối, trong đó có những lần bị phạt vì đầu cơ tiền tệ hoặc bị cáo buộc về giao dịch nội gián. Năm 1988, Soros nhận được lời đề nghị tham gia nắm giữ ngân hàng khổng lồ của Pháp Société Générale. Soros từ chối, nhưng sau đó mua một lượng cổ phần của ngân hàng này trước khi thông tin về việc chuyển nhượng ngân hàng được công bố rộng rãi. Một năm sau, giới chức Pháp bắt đầu điều tra về vụ việc và đến năm 2002, một tòa án nước này kết luận hành vi của Soros là giao dịch nội gián và tuyên phạt vị tỷ phú 2,3 triệu USD, bằng đúng số tiền Soros kiếm được từ vụ mua cổ phần của Société Générale. Soros phủ nhận và nói rằng thông tin về vụ chuyển nhượng đã được công bố rộng rãi.

Mới đây, quỹ đầu tư Soros Management Fund bị cơ quan quản lý Hungary, nơi Soros sinnh trưởng, phạt 2 triệu USD vì thực hiện kế hoạch đầu cơ tấn công đồng nội tệ của nước này.

Song tên tuổi của Soros được biết đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới qua vụ đầu cơ đồng bảng Anh vào năm 1992. Vào ngày Thứ tư Đen tối 16/9/1992, Soros đột nhiên trở nên nổi tiếng khi bán khống lượng bảng Anh có giá trị tương đương trên 10 tỷ USD, và kiếm lợi từ việc Ngân hàng Trung ương Anh do dự lựa chọn hoặc nâng lãi suất nội tệ lên ngang bằng với lãi suất tại các nền kinh tế khác trong Tổ chức sử dụng chung cơ chế tỷ giá châu Âu, hoặc thả nổi đồng nội tệ.

Cuối cùng, Ngân hàng Trung ương Anh buộc phải rút đồng bảng Anh ra khỏi cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu và phá giá đồng bảng. Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ này và được biết đến với biệt danh “kẻ phá hoại ngân hàng trung ương Anh”. Những người thân cận của Soros có lần tiết lộ, khi thấy những điểm yếu của đồng bảng trong thời điểm đó, Soros đã hối thúc những người dưới quyền tận dụng lợi thế của mình chuẩn bị cho cuộc “tấn công” vào đồng tiền này.

Năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Soros một lần nữa “đánh” đồng tiền của các quốc gia, trong đó khu vực Đông Nam Á rơi vào tầm ngắm. Quỹ đầu cơ của Soros bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để hưởng lợi trực tiếp từ chiến lược đầu cơ vào đồng tiền đó. Soros phản bác các cáo buộc và nói rằng quỹ của ông đơn thuần kiếm lợi từ chính những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới mà ai cũng biết. Chiến lược đầu tư của quỹ này được dựa trên phân tích về các xu hướng kinh tế vĩ mô đang diễn ra hoặc được nhận định sớm diễn ra tại một số nước.

Cách nhìn của giới đầu tư quốc tế cũng như lãnh đạo các nền kinh tế về Soros không đồng nhất, bởi với nhiều người, Soros như một tội đồ vì đã “đánh” các đồng tiền để kiếm lợi. Song người ta đều nhìn nhận Soros là một nhà đầu tư huyền thoại, với những nhận định xác đáng về sức khỏe nền tài chính thế giới. Cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) Paul Volcker từng nói: “George Soros đã tạo nên dấu ấn trên thị trường tài chính với tư cách một nhà đầu cơ đại tài, đủ khôn ngoan để rút lui ngay cả khi trò chơi vẫn ở phía trước. Lợi nhuận khổng lồ ông kiếm được hiện được sử dụng để thúc đẩy thay đổi tại những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi”.
Sinh trưởng trong một gia đình người Hungary gốc Do Thái, George Soros di cư sang Mỹ từ những năm 1950. Cha của ông, Tivadar Soros, là một nhà văn có tiếng tại Hungary. Trước khi sang Mỹ, Soros từng sống tại nhiều nước châu Âu và học Triết học.

Đặt chân tới Mỹ năm 1956, Soros khởi nghiệp từ vị trí nhân viên môi giới tại hãng tài chính F.M. Mayer và là nhà phân tích cho Wertheim and Company cho tới giữa những năm 1960. Trong thời gian này, Soros nghiên cứu một triết lý đầu tư của riêng mình có tên “reflexibity” (tạm dịch: cơ chế phản xạ), với quan điểm cách định giá thị trường của chính những người tham gia thị trường sẽ tác động tới giá trị đã được xác định trên cơ sở sổ sách. Đây về sau trở thành nguyên lý cơ bản của hoạt động của các quỹ đầu cơ do Soros điều hành.

Năm 1973, Soros từ bỏ vị trí phó chủ tịch một tập đoàn đầu tư tại New York và lập hãng đầu tư riêng,về sau hãng này chuyển đổi thành Quỹ Quantum. Ông tuyên bố muốn kiếm đủ tiền từ thị trường tài chính để hỗ trợ sự nghiệp viết sách và nghiên cứu triết học của mình, và dự kiến mỗi năm kiếm được 500.000 USD là chấp nhận được. Nhưng hoạt động đầu tư của Soros sau này chủ yếu được gắn liền với Soros Fund Management.

Với lượng tài sản trị giá khoảng 11 tỷ USD, Soros hiện là người giàu thứ 29 tại Mỹ theo bảng xếp hạng của Forbes, với hoạt động trong nhiều lĩnh vực, từ đầu tư chứng khoán, đầu cơ ngoại hối, kinh doanh. Vị tỷ phú này cũng là một nhà hoạt động xã hội và nhà hoạt động chính trị.

Hiện tỷ phú 79 tuổi này nắm giữ Soros Management Fund, Viện xã hội mở, và từng là một thành viên của Ban lãnh đạo của Hội đồng quan hệ quốc tế của Mỹ. Với 2 người vợ, và cả 2 đều đã ly dị, Soros có 5 người con.

Ông cũng là người tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Từ những năm 1970 đến nay, Soros liên tục đóng góp cho các quỹ hỗ trợ sinh viên người da màu học đại học, đặc biệt tại Nam Phi. Tạp chí Time ước tính, tổng số tiền Soros đã chi cho các chương trình xã hội tại Mỹ, châu Phi và Nga vào khoảng 6 tỷ USD.

George Soros cũng được biết đến với những phát ngôn gây chấn động, đặc biệt đối với chính quyền của cựu tổng thống Mỹ Georrge Bush. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post năm 2003, Soros tuyên bố việc đánh bật ông Bush ra khỏi vị trí tổng thống là “tâm điểm của cuộc đời tôi” và đây là một “vấn đề sinh tử”. Vị tỷ phú này còn nói sẽ sẵn sàng đánh đổi cả gia sản của mình cho mục tiêu này.

Soros đã thực hiện đúng như tuyên bố này, khi năm 2004, ông là một trong những người đóng góp lớn nhất cho các đối thủ của ông Bush trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Thống kê của Trung tâm phản ứng chính trị Mỹ cho thấy, Soros đã đóng góp tổng cộng 23,5 triệu USD cho trên 500 tổ chức nhằm vận động cho việc đánh bại ông Bush. Song ông Bush vẫn tái đắc cử và có nhiệm kỳ thứ hai.

(SEMvietnam – Theo Vnexpress)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png

Hỏi chuyện CEO Yahoo Việt Nam

Không những thương hiệu các công ty trên được biết đến rộng rãi ở Việt Nam, mà thương hiệu “Vũ Minh Trí” cũng được định danh và nổi lên trong làng CEO nội…

yahoo1Căn phòng nhỏ dành để tiếp khách của Tổng Giám đốc Yahoo VN Vũ Minh Trí nằm tít tận tầng thứ 31 của tòa nhà Trung tâm Thương mại Sài Gòn. Anh kể câu chuyện về thành công và những thất bại của mình với phóng viên, từ những ngày còn là một sinh viên ngành Hóa dầu (Đại học Bách khoa TP.HCM) đi làm part-time cho đến khi trở thành CEO.(*)

2 cuốn sách & 1 thái độ sống

Các cựu sinh viên ngành Hóa dầu Đại học Bách Khoa TP.HCM (khóa 1990 – 1995) không lấy làm lạ khi nghe tin Vũ Minh Trí trở thành Tổng Giám đốc của Yahoo tại VN.

Chàng sinh viên học ngành Hóa dầu ngày xưa thường tham gia những công việc part –time liên quan đến marketing. Tổng Giám đốc Yahoo VN nhớ lại rằng, thời sinh viên anh chẳng viết tốt, vẽ cũng chẳng hay nhưng khi cùng cả lớp làm báo tường, thì kết quả lớp anh luôn có một tờ báo đẹp và nội dung tốt.

Thời còn đi làm part – time, trong những bạn làm việc, nhóm nào có Minh Trí là nhóm đó luôn có những kết quả vượt trội… Từ đó anh nhận thấy ở mình có tố chất lãnh đạo nhóm, và anh xác định cho mình rằng: cần phải tận dụng những “lợi thế thiên bẩm”. Sẽ có người làm những việc với chuyên môn sâu hoặc sẽ biết nhiều lĩnh vực, do vậy phải nắm chắc các mục tiêu rõ ràng để tối ưu hóa các cơ hội đang đến, chứ không phải để cơ hội hướng mình đi theo một thứ có sẵn. Riêng về phần mình, anh muốn phát triển theo hướng trở thành một người biết nhiều lĩnh vực.

Năm 1995, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro VN) “săn” những sinh viên xuất sắc về làm việc cho mình. Nguyễn Minh Trí đã về Petro VN, nơi mà nhiều người phải ước mơ.

Nhưng về làm được một thời gian, chàng trai trẻ thấy công việc ở đây không hề phù hợp với mình, và có cái gì đó khá tù túng và bức bách. Bức bách không phải vì công việc gò bó, hay kỷ luật gắt gao… mà vì anh tự nhận thấy cái “tạng” người của mình không hợp với công việc này.

Và với anh, lúc đó “hóa dầu” không phải là một ngành để nuôi giữ giấc mơ một ngày sẽ hóa giàu nữa, mà anh muốn tìm việc đúng với sở trường của mình.

Một ngày rỗi. Buồn. Chán với công việc hiện tại. Trí nằm đọc cuốn sách “Chiếc neo nghề nghiệp”. Cuốn sách nói đến việc, về bản chất, mỗi người sinh ra đều phù hợp với một loại công việc nào đó phù hợp với tính cách của mình. Cơ bản là biết khám phá bản thân mình…

Cuốn sách thứ hai có tác động lớn đến Trí là cuốn “The 7 Habits Of Highly Effective People” của tiến sĩ Stephen Covey. Trong cuốn sách này tác giả nói rằng, để làm được một việc thành công cần định hướng một cách rõ ràng, tự vấn và xác định lại rằng mình muốn “làm cái gì?” và “trở thành ai?”

Chính điều đó đã củng cố thêm cho chàng trai trẻ quyết tâm chuyển hướng công việc sang làm “cái mà mình thích”, bất chấp những thử thách trước mắt. Vũ Minh Trí quyết định thử sức mình ở những lĩnh vực mới, từ việc nhận lời làm cho các tập đoàn như Procter & Gamble (P & G), rồi British Petroleum (BP), British American Tobacco (BAT) hay Sony Ericsson.

Trong quá trình làm việc tại các tập đoàn này, anh đã giữ các vị trí quản lý cấp cao về Tiếp thị Nhãn hiệu, Phát triển kinh doanh, Phát triển và Đào tạo, và Tiếp thị Thương Mại…

Không những thương hiệu các công ty trên được biết đến rộng rãi ở Việt Nam, mà thương hiệu “Vũ Minh Trí” cũng được định danh và nổi lên trong làng CEO nội…

Bắt đầu ở điểm kết thúc

Nếu gặp Vũ Minh Trí , chắc hẳn ai cũng khen anh là một người trẻ gặt hái được nhiều thành công. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là anh chưa từng “nếm mùi” thất bại, và thực tế cho đến tận bây giờ, những bài học đớn đau trong kinh doanh vẫn thấm thía với anh:

Đó là hồi còn làm ở Petro VN, anh nảy ra sáng kiến là áp dụng mô hình các quầy kem Wall ở các cây xăng, như ở nước ngoài. Theo dự án này, ở mỗi cây xăng sẽ có một cửa hàng bán tạp hóa. Hăng hái, anh đề xuất mở cấp tập hàng loạt cửa hàng như vậy ở nhiều nơi… Nhưng đi liền với sự vội vã của dự án này, là sự chóng đến của sự thất bại, bởi chưa đong đếm và tính toán tới văn hóa và thói quen của người tiêu dùng Việt Nam.

yahoo2

Rồi sau là sự thất bại với sản phầm xà bông tắm Camay… Sau mỗi thất bại là những cú stress nặng nề với chàng trai trẻ, nhưng triết l‎ý làm việc “bắt đầu ở điểm kết thúc” đã giúp anh đứng dậy sau những cú ngã của mình, biết đâu là lỗi và đứng lên từ việc “vá lỗi” đó, hơn là việc dừng lại và stress vì nó…

Nhiều người đặt câu hỏi tại sao nằm 2008 “gã không lồ” Yahoo lại chọn Vũ Minh Trí làm Tổng Giám đốc tại VN mà không phải là những nhân vật nổi trội khác (làm việc cho những công ty lớn) ở thời điểm đó. Bởi Yahoo nhắm vào 2 tiêu chí người đó phải là người am tường về thị trường Việt Nam, và đã có tạo nên những “câu chuyện thành công” ấn tượng. Và lúc đó, Vũ Minh Trí trong vai trò là Tổng Giám đốc Sony Ericsson VN được các chuyện gia săn đầu người của Yahoo nhắm đến…

Năm 2006, Vũ Minh Trí nhận lời mời về làm Tổng Giám đốc Sony Ericsson VN, trong làng điện thoại di động, lúc đó Sony Ericsson chiếm thị phần không đáng kể ở Việt Nam. “Gia tài” mà anh tiếp quản lúc đó là một công ty mỗi tháng thua lỗ hàng triệu USD, vốn liếng đang cạn dần, thậm chí trụ sở làm việc còn đi… “ăn nhờ, ở đậu”.

Tiền quảng cáo chẳng là bao so với những “ông lớn” Nokia, Samsung. Và vị Tổng Giám đốc lúc đó đã chọn chiến lược “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Quyết định không “đụng độ” các “ông lớn” trên mặt báo và trên tivi.

Trí hướng chiến lược quảng cáo đến các cửa hiệu và đào tạo nhân viên bán hàng tại các điểm bán lẻ, để họ thấy một chức năng quan trọng nổi bật và chiếm ưu thế của điện thoại Sony Ericsson.

Anh cho rằng cứ 30 người ấn tượng với cửa hiệu, khoảng 10 người tò mò bước vào xem, thì sẽ bán được ít nhất 1 điện thoại. Như vậy là hiệu quả có thế “lượng hóa” được, trong khi chi phí quảng cáo trên tivi. Và quả thực sau đó không lâu, hiệu quả đã có thể đong đếm được: Doanh số tăng 600% trong một thời gian ngắn…

Vũ Minh Trí cho rằng, nhẽ ra, với những gì anh đã làm được cho Sony Ericsson, anh có quyền ở lại để thưởng thức và tận hưởng thành công, nhưng nghĩ đến lời mới của “gã khổng lồ” Yahoo lại đang như kích thích “bản năng chinh phục” của anh.

( SEMveitnam – Theo SVVN)

http://www.semvietnam.com/wp-content/themes/newsweek/images/google_sem.png