Franchise – Kênh tiếp thị độc đáo & ưu việt

Nhượng quyền kinh doanh (franchise) với tư cách là “khái niệm & mô hình tiếp thị thành công nhất trong tất cả các khái niệm & mô hình đã từng phát minh” hiện được phân loại như thế nào? mối quan hệ giữa franchise với khái niệm kênh tiếp thị (channel marketing) ra sao khi nhìn từ góc nhìn tiếp thị? Bài viết sau nhằm cung cấp một số định nghĩa toàn diện và chi tiết liên quan đến franchise nhằm giúp các doanh nghiệp định hướng lựa chọn mô hình franchise và kênh tiếp thị phù hợp & hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp của mình.

Có 4 loại hình nhượng quyền kinh doanh (franchise) cơ bản, phản ánh mức độ hợp tác & cam kết khác nhau giữa bên nhượng quyền (franchisor) và bên nhận quyền (franchisee):

1. Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format franchise)

Mô hình franchise này được cấu trúc chặt chẽ & hoàn chỉnh nhất trong các mô hình nhượng quyền, thể hiện mức độ hợp tác và cam kết cao nhất giữa các bên, có thời hạn hợp đồng từ trung hạn (5 năm) đến dài hạn (20 hay 30 năm) như các chuỗi thức ăn nhanh quốc tế như KFC, Subway, McDonald’s, Starbucks, hoặc Phở 24 của Việt Nam. Bên nhượng quyền chia xẻ và chuyển nhượng ít nhất 4 loại “sản phẩm” cơ bản, bao gồm:

  • hệ thống (chiến lược, mô hình, quy trình vận hàng được chuẩn hóa, chính sách quản lý, cẩm nang điều hành, huấn lyện, tư vấn & hỗ trợ khai trương, kiểm soát, hỗ trợ tiếp thị, quảng cáo);
  • bí quyết công nghệ sản xuất/kinh doanh;
  • hệ thống thương hiệu;
  • sản phẩm/dịch vụ.
Bên nhận quyền có trách nhiệm thanh toán cho bên nhượng quyền 2 khoản phí cơ bản là phí nhượng quyền ban đầu (up-front fee) và phí hoạt động (royalty fee), thường được tính theo doanh số bán định kỳ.

Ngoài ta bên nhượng quyền có thể trả thêm các khoản chi phí khác như chi phí thiết kế & trang trí cửa hàng, mua trang thiết bị, chi phí tiếp thị, quảng cáo, các khoản chênh lệch do mua nguyên vật liệu, chi phí tư vấn …2. Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (non-business format franchise):

Việc chuyển nhượng một số yếu tố nhất định của mô hình nhượng quyền hoàn chỉnh theo nguyên tắc quản lý “lỏng lẻo” hơn, bao gồm các trường hợp sau:

- Nhượng quyền phân phối sản phẩm/dịch vụ (product distribution franchise) như sơ mi cao cấp Pierre Cardin cho An Phước, Foci, chuỗi cà phê Trung Nguyên;

- Nhượng quyền công thức sản xuất sản phẩm & tiếp thị (marketing franchise) như Coca Cola;

- Cấp phép sử dụng thương hiệu (brand franchise/trademark license) như Crysler, Pepsi nhượng quyền sử dụng các thương hiệu Jeep và Pepsi cho sản phẩm thời trang may mặc ở Châu Á; nhượng quyền thương hiệu Hallmark (sản phẩm chính là thiệp) để sản xuất các sản phẩm gia dụng như ra giường, nệm gối; nhượng quyền sử dụng các biểu tượng & hình ảnh của Disney trên các sản phẩm đồ chơi, thực phẩm, đồ da dụng…

- Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên hiệu (banner grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp (professional service) loại tư vấn kinh doanh/tư vấn pháp lý như KPMG, Ernst & Young, Grant Thornton…

Nhìn chung đối với mô hình nhượng quyền không toàn diện này, bên nhượng quyền là chủ thể sở hữu thương hiệu/sản phẩm/dịch vụ thường không nỗ lực kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập của bên nhượng quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền thường có ý định mở rộng nhanh chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độ bao phủ thị trường, doanh thu & đi trước đối thủ như trường hợp cà phê Trung Nguyên hoặc G7 Mart.

Đặc biệt, nhượng quyền thương hiệu (brand licensing) trở thành ngành kinh doanh hấp dẫn và mang lại nhiều lợi nhuận to lớn cho bên nhượng quyền với tư cách là chủ thể sở hữu thương hiệu mạnh (như Pepsi) và bên nhận quyền khi tiếp nhận & kinh doanh sản phẩm gắn liền với thương hiệu đó (trường hợp thời trang Pepsi không có liên hệ gì với sản phẩm “lõi” nước giải khát Pepsi mang cùng thương hiệu) nhờ sử dụng lợi thế giá trị tài sản thương hiệu (brand equity) đã được phát triển qua nhiều năm.

3. Nhượng quyền có tham gia quản lý (management franchise):

Hình thức nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớn như Holiday Inc, Marriott, trong đó bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp người quản lý & điều hành doanh nghiệp ngoài việc chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu và mô hình/công thức kinh doanh.

4. Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (equity franchise):

Người nhượng quyến tham gia vốn đầu tư với tỷ lệ nhỏ dưới dạng liên doanh, như trường hợp của Five Star Chicken (Mỹ) ở Việt Nam để trực tiếp tham gia kiểm soát hệ thống. Bên nhượng quyền có thể tham gia Hội đồng quản trị công ty mặc dù vốn tham gia đóng góp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnh tranh thị trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm 3 yếu tố ưu tiên quan trọng sau khi lựa chọn mô hình franchise phù hợp cho doanh nghiệp mình.

Đó là các yếu tố hiệu quả & mức độ kiểm soát hệ thống, chi phí phát triển hệ thống & mức độ bao phủ thị trường xét về độ lớn & tốc độ. Những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến chiến lược franchise và cách lựa chọn các cấu trúc franchise phù hợp khi ký kết hợp đồng franchise như loại hình franchise một/nhiều đơn vị franchise (single/multiple-unit franchise), đại diện franchise toàn quyền (master franchise), franchise phụ trách phát triển khu vực (area development) hay đại diện franchise (representative franchise), đặc biệt khi công ty mở rộng thị trường mới hay định hướng xuất khẩu.

Đối với các công ty trong nước, franchise là lãnh vực còn mới và chưa được nhiều công ty hiểu biết sâu sắc và áp dụng mô hình franchise này một cách toàn diện & thành công vào thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài trừ vài trường hợp hiếm hoi như Phở 24. Mặt khác, do những hạn chế về công tác quản trị thương hiệu & cả sức mạnh thương hiệu, công tác quản trị & kiểm soát hệ thống được tiêu chuẩn hóa mọi quy trình và tác vụ, các doanh nghiệp chủ yếu đang áp dụng mô hình franchise không toàn diện, đặc biệt theo phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm/dịch vụ như thegioididong, Foci, Cà phê Trung Nguyên…Trên thế giới người ta sử dụng nhiều từ ngữ đẹp đẽ nhất để ca ngợi giá trị của franchise như “phát minh vĩ đại nhất của chế độ tư bản phương tây”, “cách mạng hóa hoạt động phân phối hàng hóa và dịch vụ trong hầu hết các lĩnh vực ngành hàng và ở hầu hết các nước” và được đánh giá là “khái niệm & mô hình tiếp thị thành công nhất trong tất cả các khái niệm & mô hình đã từng phát minh”. Về góc nhìn tiếp thị, franchise có quan hệ & ý nghĩa như thế nào đối với việc lựa chọn các kênh tiếp thị phù hợp và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp?

Quan hệ giữa franchise & tiếp thị theo kênh (channel marketing):

Khi xây dựng mô hình tiếp thị và bán hàng, các doanh nghiệp sẽ cân nhắc lựa chọn các kênh tiếp thị phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình. Thiết kế tiếp thị theo kênh (channel marketing) là công việc quan trọng thuộc về chiến lược tiếp thị mà các doanh nghiệp trong nước chưa quen thuộc và thành thạo như các tập đoàn đa quốc gia đang tiếp tục xâm nhập một cách bài bản vào thị trường Việt Nam.

Có một số cách thức khác nhau liên quan đến lựa chọn kênh tiếp thị riêng rẽ và kể cả kết hợp các kênh với nhau. Doanh nghiệp có thể lựa chọn chỉ định các nhà bán lẻ (retailer hay dealer), tổ chức hệ thống đại lý (agent), chỉ định nhà phân phối/bán sỉ (distributor/wholesaler), tiếp thị trực tiếp (direct marketing) theo kiểu cá nhân hóa tiếp thị hoặc lựa chọn mô hình franchise. Doanh nghiệp có sản phẩm hay dịch vụ có thể sử dụng bất cứ cách nào trong những kênh tiếp thị này khi hợp tác với bên thứ ba để phân phối sản phẩm hay dịch vụ. Quyết định này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, chiến lược tiếp thị và năng lực quản lý của từng doanh nghiệp.Ngoài ra, doanh nghiệp cần cân nhắc thêm 3 yếu tố quan trọng khi lựa chọn kênh tiếp thị, bao gồm mức độ kiểm soát hệ thống, chi phí & độ bao phủ thị trường.

Hình thức buôn bán lẻ (dealership hay retailer) thường dùng để chỉ những người buôn bán nhỏ được giao quyền kinh doanh (có thể để bán lại hay bán lẻ) một sản phẩm đặc thù nào đấy của các doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh nhỏ. Thông thường, người buôn bán lẻ không bị doanh nghiệp này ràng buộc phải kinh doanh trên cơ sở “độc quyền” sản phẩm hay khu vực bán hàng nào đó. Đa số họ là các các cửa hàng với khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng (end-user). Ví dụ, các cửa hàng kinh doanh điện thoại di động, tạo hoá, thực phẩm. Một đặc điểm quan trọng là các loại hình bán lẻ và cả hệ thống đại lý thường hoạt động theo mô hình quản lý kinh doanh lỏng lẻo (loose business format) và thiếu những ràng buộc chặt chẽ về quản lý, tính nhất quán về thương hiệu. Doanh nghiệp không quy định rõ ràng quy trình kinh doanh (ngoại trừ các kỹ thuật, quy định và điều kiện liên quan đến việc kinh doanh các sản phẩm của họ), hệ thống bản sắc thương hiệu (thể hiện qua trang trí nội/ngoại thất cửa hàng, bảng hiệu, thiết kế…), tính đồng nhất & hiệu quả cho toàn hệ thống gặp nhiều hạn chế. Doanh nghiệp cung cấp mức hỗ trợ hạn chế, thường chủ yếu những gì liên quan đến bản thân sản phẩm & dịch vụ liên quan như giao hàng, bảo hành, đổi hàng… Hình thức phân phối (distributorship) thường liên quan đến quyền được trao để bán một sản phẩm hay dịch vụ trong một giới hạn địa lý nào đó. Khách hàng của họ (customer) chính là các nhà bán sỉ, nhà bán lẻ hoặc thậm chí nhà phân phối nhỏ hơn.

Nhà phân phối không buộc phải kinh doanh “độc quyền” các sản phẩm của doanh nghiệp (do đó, sự trung thành không được bảo đảm), trừ trường hợp hợp tác phân phối độc quyền. Nhà phân phối có thể sử dụng cửa hàng showroom để trưng bày sản phẩm thay vì các cửa hàng bán hàng như nhà bán lẻ. Nhà phân phối thường được chọn căn cứ trên sức mạnh và độ rộng của mạng lưới phân phối.

Tương tự hình thức đại lý hay nhà bán lẻ, nhà phân phối thường không nhận được nhiều những hoạt động hỗ trợ từ công ty chính, ngoại trừ các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh bản thân sản phẩm như cung cấp tài liệu quảng cáo catalogue, huấn luyện sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật (như hệ thống thông tin), trong khi đó còn hạn chế nhiều về tính đồng nhất trong quản lý hệ thống bản sắc thương hiệu. Franchise thì “độc đáo” hơn nhiều bởi vì nó đòi hỏi sự nhất quán trong cách thể hiện bản sắc thương hiệu và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngoài việc tập trung kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ của bên nhượng quyền. Thông thường, việc nhượng quyền được trao độc quyền cho bên nhận quyền trong phạm vi địa lý nào đó. Bên nhận quyền cũng được yêu cầu chỉ kinh doanh sản phẩm và dịch vụ của bên nhượng quyền. Thỏa thuận nhượng quyền thường dài hạn hơn (5 đến 20 năm hay hơn nữa), so với hình thức đại lý và phân phối (có thể ký lại từng năm, hoặc 3 đến 5 năm tùy vào khả năng thỏa thuận). Thỏa thuận nhượng quyền cũng chi tiết hơn. Bên nhượng quyền có trách nhiệm hỗ trợ liên tục bên nhận quyền thiết lập & vận hành kinh doanh. Bên nhượng quyền phải tuyệt đối tuân thủ các ràng buộc, quy định, chính sách và hệ thống của bên nhượng quyền (được quy định rất chi tiết trong cẩm nang hoạt động & hệ thống kiểm soát hệ thống). Đổi lại, bên nhượng quyền nhận được các khoản phí cho các hoạt động hỗ trợ từ bên nhận quyền (khác với hình thức đại lý hay phân phối, có thể không có khoản phí đó). Căn cứ vào phân tích trên, quan hệ nhượng quyền đương nhiên chặt chẽ và kỹ lưỡng hơn hình thức đại lý và phân phối. Các mô hình kinh doanh “lòng lẻo” như phân tích trên đây thường được các công ty trong nước áp dụng phù hợp với mục đích chủ yếu là gia tăng doanh thu, độ bao phủ & thị phần nhanh chóng trong điều kiện khả năng về vốn, quản lý kênh tiếp thị & bán hàng còn hạn chế.

Điều lưu ý là bên cạnh gia tăng doanh thu trong ngắn hạn, các doanh nghiệp về lâu dài cần hoàn thiện hơn hệ thống quản lý tiếp thị bán hàng, gìn giữ và phát triển hình ảnh & giá trị thương hiệu, chăm sóc & quan hệ chặt chẽ với hệ thống các nhà bán lẻ & nhà phân phối để đảm bảo việc kinh doanh có cơ hội phát triển lớn hơn, bền vững & lâu dài hơn.

Nhìn xa hơn, tất cả các chiến lược tiếp thị theo kênh như trên sẽ ngày càng trở nên phổ biến hơn tại Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu kinh doanh các sản phẩm & triết lý kinh doanh khác nhau của doanh nghiệp. Franchise sẽ phổ biến & phù hợp đối với doanh nghiệp nào mong muốn xây dựng hệ thống bản sắc thương hiệu và hệ thống quản trị & kiểm soát kinh doanh chặt chẽ. Các hình thức đại lý, nhà bán lẻ hay nhà phân phối sẽ phù hợp & phổ biến với các chủ sở hữu mong muốn xâm nhập hay và dành thị phần nhanh chóng với sản phẩm có giá trị thấp với định hướng chính họ là người bán sản phẩm (như hàng tiêu dùng nhanh FMCG).

Từ góc nhìn của bên nhận quyền, tham gia vào một hệ thống franchise đã được thiết lập sẵn & đã được kiểm chứng tính hiệu quả trong thực tế tất nhiên sẽ giúp họ nhanh chóng làm chủ một cửa hàng/đơn vị kinh doanh với xác xuât thành công cao hơn là tự họ thiết lập mô hình kinh doanh cho mình. Hơn nữa, họ sẽ có cơ hội rút ngắn thời gian học hỏi bí quyết & kinh nghiệm kinh doanh thậm chí ngay cả khi họ chưa có kinh nghiệm kinh doanh trước đây.

Theo nghiên cứu của Phòng Thương mại Mỹ từ năm 1974 đến 2002, trung bình chỉ có 5% số doanh nghiệp thất bại trong lĩnh vực franchise, trong khi con số tương ứng ở các doanh nghiệp không nhượng quyền là 30-65%. Ngoài ra, bên nhận quyền sẽ tận dụng được lợi thế có được nhờ quy mô toàn hệ thống như giảm chi phí tiếp thị, khuyến mãi, giảm giá đầu vào nguyên vật liệu…

Bài viết này được thực hiện bởi nhóm công ty tư vấn FT-Pathfinder Consuting Group, bao gồm hai công ty tư vấn the Pathfinder (Vietnam) & FT Consulting (Singapore). FT Consulting hiện là một trong những công ty tư vấn lớn nhất Châu Á chuyên về franchise với kinh nghiệm tư vấn thực tiễn hơn 150 hệ thống franchise thuộc hơn 40 ngành nghề với các khách hàng lớn như HP, Siemens, Telekom Malaysia, KPMG, NTUC… FT Consulting đồng thời điều hành trực tiếp một chuỗi cửa hàng cà phê với gần 50 cửa hàng tại 9 quốc gia ở Châu Á.

(Theo  Saga/tuanpathfinder)

Năm cách để tạo ra sự truyền miệng

Hầu hết chúng ta đều hiểu rõ thực trạng kinh tế hiện tại. Với kinh nghiệm và phân tích cá nhân, tôi khuyên các doanh nghiệp không nên dồn ngân sách vào các hoạt động marketing. Nhưng đáng tiếc không phải doanh nghiệp nào cũng lắng nghe.

Đó là lý do tôi muốn chia sẽ những kiến thức giúp doanh nghiệp bạn xây dựng một chiến dịch marketing truyền miệng hiệu quả.

Marketing truyền miệng( Word of mouth hay Virus Marketing) là một công cụ marketing rất kho đo lường, nhưng nó mang lại hiệu quả chi phí tốt nhất hiện nay, bởi lẽ chúng ta không cần tiêu tốn gì nhiều cho loại hình marketing này(đôi khi không tốn một xu nào).

Khách hàng là phương tiện hoàn hảo để phát tán một chiến dịch marketing truyền miệng tích cực, nhưng làm sao để họ bàn tàn về thương hiệu của bạn, đó mới là vấn đề.

Mời khách hàng dùng thử sản phẩm.

Nếu muốn khách hàng truyền miệng nhau về sản phẩm của mình, các hay nhất là mời dùng thử hàng mẫu để họ có cơ hội giới thiệu cho bạn bè. Đó là một cách hữu hiệu để tạo được sự thích thú và là lời quảng cáo khôn ngoan.

Làm cho khách hàng thấu hiểu bạn

Phải biết “lôi kéo”, lắng nghe quan điểm của khách hàng. Tạo cho khách hàng cảm thấy các phản hồi và quan điểm của họ được bạn quan tâm đúng mực. Xây dựng danh mục các chương trình, sản phẩm mới cũng như dịp khuyến mãi sắp diễn ra cho khách hàng theo dõi.

Tạo các diễn đàn tương tác với khách hàng dưới danh nghĩa của công ty.

Cho các khách hàng có khả năng tác động cộng đồng một nơi để họ chia sẻ quan điễm và kinh nghiệm sử dụng sản phẩm. Đây được xem là nơi để tiệc tùng được doanh nghiệp tài trợ và là một địa điểm online tập trung các khách hàng mục tiêu của công ty.

Xây dựng dịch vụ khách hàng chất lượng và lễ độ đối với tất cả khách hàng.

Hãy cho khách hàng cơ hội nói tốt về bạn. Cho họ thấy rằng dịch vụ và cách tiếp đón khách hàng là mục tiêu hàng đầu của công ty. Bạn có nghĩ rằng Starbucks nổi tiểng như hiện nay chỉ đơn giản vì họ bán café Latte với giá cắt cổ 4 USD? Điều đó hoàn toàn sai, họ thành công là nhờ nhân viên Starbucks cố gắng nhớ tên, thói quen, sở thích của từng khách hàng để phục vụ tốt hơn. Nhân viên của Starbucks vừa có kỹ năng vừa có kinh nghiệm, đó là lý do khách hàng chấp nhận bỏ 4 USD cho 1 cốc Latte với sự hài lòng mỹ mãn. Nhưng không may là đẳng cấp phục vụ chuyên nghiệp ấy đã giảm sút nhiều, và trước đây thì phong cách phục vụ này được họ xây dựng như một bí quyết kinh doanh rất khoa học. Và có thể nếu họ chỉnh đốn lại phong cách phục vụ như trước đây thì vấn nạn kinh tế toàn cầu sẽ không làm suy suyển công việc làm ăn của Starbucks.

Xây dựng mối quan hệ thân mật, tạo sự mê hoặc nơi khách hàng để họ bàn tán với bạn bè

Cung cấp thông tin thuận tiện và đầy đủ cho khách hàng, đặc biệt là các chương trình khuyến mãi và tặng các phiếu giảm giá, như vậy là chúng ta đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng. Hành động này không những tăng mức độ thường xuyên họ giao tiếp với bạn mà còn giúp lời bán tán trở nên sôi nổi và lan truyền nhanh hơn.

Quốc Tuấn (Sưu tầm và lược dịch từ marketing.about.com)

Mười lỗi cần tránh khi tung sản phẩm mới

Tỉ lệ thất bại trong quá trình tung sản phẩm, dịch vụ mới thường giao động trong khoảng 50 – 70%. Một nghiên cứu vào 1997 đã chỉ ra rằng:

Việc tung sản phẩm mới là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới có thể là thời điểm đầy thú vị và cần phải theo những quy trình nghiêm ngặt nếu không cơ hội thành công sẽ trở nên mong manh.  Tỉ lệ thất bại trong quá trình tung sản phẩm, dịch vụ mới thường giao động trong khoảng 50 – 70%. Một nghiên cứu vào 1997 đã chỉ ra rằng:

- Tỉ lệ thất bại khi giới thiệu sản phẩm mới trong ngành bán lẻ rau quả lên tới 70 – 80%

- 20 công ty thực phẩm hàng đầu tại Mỹ đạt tỉ lệ thành công khi giới thiệu sản phẩm mới là 76%

- 20,000 công ty thực phẩm tại Mỹ (xếp từ dưới lên) chỉ đạt tỉ lệ thành công là 11.6%.

- Sự khác biệt giữa top 20 công ty hàng đầu và 20,000 công ty cuối bảng về hiệu quả khi tung ra sản phẩm mới nằm ở yếu tố nghiên cứu thị trường và chiến lược marketing.

Đây là 10 đểm cần tránh khi lên kế hoạch và triển khai việc tung sản phẩm mới

1. Không lên kế hoạch sớm.

Doanh nghiệp thường dành thời gian lên kế hoạch và phát triển những sản phẩm mới, nhưng lại không dành thời gian để lên kế hoạch tung sản phẩm. Chỉ vài tuần trước ngày tung sản phẩm, họ mới nhận ra là không có một bản kế hoạch và không đủ chuyên môn và nguồn lực để tung sản phẩm thành công.

2. Không có chiến lược tiếp thị hay chiến lược không tốt.

Đôi khi doanh nghiệp chỉ chú trọng vào nỗ lực ra mắt sản phẩm nhưng lại không chú ý tới phát triển một chiến lược marketing phù hợp để tăng doanh số về lâu dài.

3. Không thể xác định thị trường mục tiêu.

Nếu không thể xác định thị trường mục tiêu, làm sao có thể biết họ muốn gì và làm cách nào tiếp cận họ.

4. Tung sản phẩm quá sớm.

Nhiều công ty quá vội vàng muốn trở thành người đầu tiên trên thị trường nên đã bỏ qua những yếu tố quan trọng khi ra mắt sản phẩm và kết quả đạt được sẽ không tốt.

5. Chất lượng sản phẩm kém.

Yếu tố này thường đi kèm với việc tung ra sản phẩm quá sớm. Tôi đã chứng kiến khá nhiều trường hợp công ty do quá nôn nóng tung ra sản phẩm mới nên bỏ qua một số những thiếu sót quan trong trong sản phẩm.

6. Kế hoạch tung sản phẩm cứng nhắt và thiếu linh hoạt.

Giới thiệu thành công một sản phẩm mới là cả một nghệ thuật, không chỉ đơn giản mang tính khoa học. Chính vì vậy bạn cần uyển chuyển và linh hoạt trong việc tổ chức triển khai chương trình.

7. Thiếu ngân sách.

Đây là một thiếu sót phổ biến, không chỉ xảy ra với những dự án tung sản phẩm mà tại hầu hết các công ty nhỏ nói chung. Những công ty này không thể đảm bảo nguồn ngân sách sẵn có đủ để có thể triển khai các chương trình.

8. Đánh giá quá cao kết quả.

Quả là nằm mơ giữa ban ngày khi bạn mong đợi một chương trình giới thiệu sản phẩm hoàn hảo khi chỉ đầu tư vài ngàn USD vào các hoạt động tiếp thị, bạn nghĩ mình sẽ là tâm điểm chú ý của giới truyền thông và khách hàng đang đón chờ sản phẩm mới của bạn?

9. Không ủy quyền công việc.

Không ai có thể làm tốt mọi việc, đặc biệt trong những doanh nghiệp nhỏ, CEO thường cho rằng họ là người đa năng với chuyên môn có thể làm tất cả mọi thứ. Tuy nhiên, điều này thường không xảy ra.

10. Không có kế hoạch sử lí khủng hoảng.

Bạn sẽ làm gì khi mọi thứ đi chệch hướng? Đa số mọi người sẽ hoảng sợ và việc này sẽ chẳng giúp ích được gì. Thực tế là không ai có thể lường trước được tất cả những sự cố có thể xảy ra, nhưng nếu chuẩn bị trước kế hoạch sử lí sẽ rất có lợi.

(Theo Marketing chiến lược)

Đạo đức marketing

Đạo đức là các tiêu chuẩn về cách hành xử chi phối tư cách của các cá nhân, nhóm và các tổ chức kinh doanh. So với các chức năng khác, marketing là một lĩnh vực có nhiều khả năng phát sinh các vấn đề về đạo đức.

Sau đây là những mục tiêu mà những người làm marketing phải nắm bắt, cũng như những điều vi phạm đạo đức mà họ đã làm, để đạt được những mục tiêu này:

-Xây dựng sự nhận thức. Quấy rầy khách hàng hết lần này đến lần khác bằng thông điệp của mình, sẵn sàng xâm phạm sự riêng tư của khách hàng nếu cần thiết.

-Giúp các sản phẩm và dịch vụ của công ty trở nên nổi bật. Cường điệu các điểm tích cực và che giấu những điểm tiêu cực bằng một vẻ ngoài đẹp mắt.

-Khuyến khích khách hàng mua hàng. Hứa hẹn với khách hàng quá mức.

Theo nhìn nhận của công chúng, các mẩu quảng cáo thường mắc phải nhiều vấn đề về chuẩn mực đạo đức. Có bao nhiêu mẩu quảng cáo trên truyền hình mà bạn đã xem có cảnh lái xe rất ẩu? Có bao nhiêu mẩu quảng cáo về ngân hàng và thẻ tín dụng khuyến khích tự do vay mượn để tiêu dùng cá nhân? Các mẩu quảng cáo này nói những lời lẽ hết sức khoa trương: “Hãy tận hưởng một kỳ nghỉ lý tưởng.

Thẻ tín dụng của chúng tôi sẽ làm cho điều đó thật dễ dàng”. Đừng bao giờ bận tâm rằng quá nhiều người sẵn sàng nợ nần, vì đây là những người có nhiều khả năng hưởng ứng quảng cáo nhất. Đặc biệt, những mẩu quảng cáo nhắm đến trẻ em đã dẫn đến nhiều lời than phiền của công chúng.

Áp lực để được chú ý đã khiến các nhà quảng cáo thi nhau hô hào, thậm chí vượt quá ngưỡng cư xử đạo đức. Đồng thời, Internet cũng mở ra những lĩnh vực quan tâm mới, đáng chú ý nhất là thu thập và sử dụng trái phép thông tin của khách hàng.

Mặc dù nhiều nước, chẳng hạn như Mỹ, đã ban hành luật cấm những hành vi vô đạo đức trong marketing, song rõ ràng là những luật này sẽ chẳng bao giờ kiềm chế được tất cả mọi hành vi xấu dưới danh nghĩa marketing. Chỉ những nguyên tắc đạo đức tốt đẹp trong phạm vi các công ty, ngành công nghiệp và các nhóm chuyên nghiệp là đủ khả năng làm điều đó.

Theo Công ty Ethics Quality thì “Các nguyên tắc đạo đức có tác dụng như một chiếc máy lọc dầu trong cỗ máy marketing: chúng lọc các tạp chất để dầu có thể làm cho cỗ máy hoạt động. Tất cả các công ty cần những nguyên tắc đạo đức để lọc bỏ bản chất không tốt của thương trường cạnh tranh để có thể nhắm đến, thu hút và giữ chân những khách hàng tốt cho công ty”. Đây là một lời khuyên quý giá.

Thật khó xác định rõ liệu khách hàng ngày nay có khó chịu vì marketing hơn so với trước đây hay không, hay liệu khách hàng ngày nay đã sẵn sàng thẳng thắn bày tỏ ý kiến mỗi khi bất bình hay chưa. Chỉ biết rằng, trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, sự thiếu đạo đức cũng khiến bộ phận marketing phải chịu tiếng xấu. Tình huống không hay này chắc chắn sẽ làm giảm tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư cho marketing.

Vì vậy, một trong những thử thách của công tác marketing là cải thiện niềm tin của công chúng vào các cuộc truyền thông marketing. Cách hiệu quả nhất để đạt được điều đó là đảm bảo rằng mọi hình thức hỗ trợ bán hàng, quảng cáo, định giá, và mọi hành vi sử dụng thông tin của khách hàng đều phải phù hợp với một chuẩn mực đạo đức cao.

Các thử thách được mô tả trong chương này có ý nghĩa quan trọng. Ba trong số đó giữ đúng lời hứa, đánh giá và giải trình trách nhiệm, và cư xử hợp đạo đức là những thử thách bên trong, của riêng công ty và nằm trong tầm kiểm soát của các nhà quản lý cũng như nhân viên. Những khó khăn này sẽ được giải quyết nếu mọi người đối diện chúng một cách nghiêm túc.

Những thách thức khác ở bên ngoài và khó giải quyết hơn thông qua hành động trực tiếp. Chẳng hạn, một mình công ty không thể thay đổi sự thật rằng thông tin giữa họ và khách hàng ngày càng bão hòa. Họ cũng không thể loại bỏ sự hỗn loạn trong quảng cáo và hỗ trợ bán hàng vốn cản trở truyền thông marketing. Tuy nhiên, ngay cả những khó khăn lớn hơn cũng có thể vượt qua nếu có chiến lược marketing hiệu quả và sáng tạo.

Tóm tắt

-Sự bất đối xứng về thông tin vốn là điều thuận lợi cho nhà sản xuất giờ đang đi đến hồi kết thúc, phần lớn là do sự xuất hiện của Internet. Nhà sản xuất phải tìm cách điều chỉnh tình hình mới này.

-Các công ty phải cam kết giữ đúng lời hứa, nghĩa là họ phải rút ngắn khoảng cách giữa những lời hoa mỹ về sản phẩm cũng như về thương hiệu công ty với thực tế mà khách hàng trải nghiệm.

-Những thông điệp marketing hầu như không nhận được sự chú ý của mọi người. Cách hiệu quả để giải quyết tình trạng này là cung cấp những thông điệp marketing chứa đựng một giá trị nào đó đối với khách hàng.

-Những người làm công tác marketing nói chung và quảng cáo nói riêng thường vấp phải các vấn đề về chuẩn mực đạo đức. Sự nhận biết của công chúng về hành vi này chắc chắn sẽ làm giảm tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư marketing.

(Theo Lệ Hoa – Abviet trích ” Các kỹ năng tiếp thị hiệu quả” /First News và NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành)

Liệu Google có thể "tổ chức lại nguồn tri thức thế giới"?

Các gương mặt tên tuổi trong ngành công nghiệp sách đang ra sức chống lại thỏa thuận pháp lý đang được đề xuất, trong đó cho phép gã khổng lồ Google nắm giữ toàn bộ khối sách nhân loại.

Google BooksTham vọng của Google là tạo dựng nên một khối kiến thức lớn nhất trong lịch sử loài người bằng cách quét lên mạng Internet hàng triệu cuốn sách, hơn hết nó mở ra một hình thức xuất bản kỹ thuật số mới. Tham vọng này đang vấp phải sự phản đối gay gắt từ các tác giả và nhiều chuyên gia luật pháp nhằm bảo vệ bản quyền tác phẩm của họ và ngăn chặn việc Google sẽ công khai các tác phẩm lên mạng Internet. Nhờ dự án này của Google mà độc giả và các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận hàng triệu đầu sách không còn được xuất bản, cũng hiếm khi tìm thấy chúng trên mạng.

Quét lên mạng hàng triệu cuốn sách

Các thư viện trên khắp nước Mỹ đã cố gắng gia tăng khối lượng sách ở dạng điện tử, để thêm doanh thu từ các tác phẩm. Tuy nhiên thời gian gần đây, chính họ lại là những người đặt câu hỏi về thoả thuận này. Nó làm tăng lo ngại về sự thiếu công bằng với các tác giả, và liệu nó có thể bảo vệ sự riêng tư của mỗi người khi mà thói quen đọc sách của họ có thể bị tiết lộ.

Đặc biệt, dường như gã khổng lồ Google đang được pháp luật cho phép độc quyền thương mại hoá hàng triệu quyển sách hiếm không còn xuất bản. Toà án đã bắt đầu cuộc điều tra về những nghi ngờ xung quanh bản thoả thuận.

Các tác giả không để yên

Từ năm 2004, Công ty Google đã bị các nhà văn và nhà xuất bản Mỹ phản ứng mạnh mẽ. Những người này đã khởi xướng một vụ kiện tập thể tại Mỹ. Ông Scott E. Gant, luật sư, người viết sách cùng một cộng sự tại công ty luật nổi tiếng ở Washington Boies Schiller & Flexner, đã cùng nhau lên kế hoạch đệ đơn chống lại việc Google được phép thu lợi từ các quyển sách kỹ thuật số.

Sự chống đối được đệ trình lên toà án tuần trước, đề nghị bãi bỏ bản thoả thuận chắc chắn sẽ có tầm ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của dự án số hoá sách của Google. Các chuyên gia luật chưa xem hồ sơ của Gant nhưng đã nghe trình bày về vụ kiện này, cho rằng lập luận này của ông Gant sẽ là một cú đánh trực tiếp vào bản thoả thuận.

Không giống với những lần phản đối dự án trước đây chỉ tập trung vào các vấn đề chính sách và nêu ra sửa đổi, bổ sung cho các bản thoả thuận. Ông Gant lập luận rằng thoả thuận này sẽ tạo điều kiện cho Google có quyền thương mại với hàng triệu quyển sách mà không cần đến thương lượng cá nhân với các tác giả, rốt cục đây là một sự lạm dụng.

Gant nói thêm: “Bất kỳ ai đang tham gia vào dự án này nên tự mình tìm hiểu đầy đủ xem họ đang thực sự làm gì. Thực tế thì mọi người đang bị ép để giúp Google có được tài sản trí tuệ lớn từ họ mà không hề hay biết ý nghĩa của nó”.

Google và các đối tác đang “cố gắng hết mình để bản thoả thuận được chấp thuận, nhờ vậy mà hàng triệu người nắm giữ bản quyền các tác phẩm sách sẽ không còn phàn nàn gì được nữa”. Những người ủng hộ và phản đối Google đang xếp hàng ngóng đợi phiên toà sẽ mở vào tháng 9 này.

Lợi nhiều hơn hại?

Đối thủ trước đây là Hiệp hội tác giả và liên hiệp các nhà xuất bản Mỹ, đơn vị đã từng kiện Google năm 2005 ở toà án Liên bang bắc New York lại đang ủng hộ Google và phủ nhận tồn tại sự độc quyền kinh doạnh. Một số hiệp hội đứng bên lề cũng lên tiếng ủng hộ bản thoả thuận giữa Google và các tác giả về bản quyền sách kỹ thuật số, gồm có Hiệp hội các trường đại học độc lập California và các trường đại học khác cũng như Hiêp hội người mù liên bang.

Những bên ủng hộ bản thoả thuận trên tuy chưa từng đọc tài liệu mà ông Grant đưa ra nhưng hoàn toàn gạt bỏ quan điểm của ông. Họ cho rằng chấp thuận thoả thuận là quyết định đúng đắn của toà án. Nhờ vậy Hiệp Hội các tác giả có quyền thay mặt mọi nhà văn quyết định xem các tác phẩm của họ có được nhập vào kho dữ liệu của Google hay không.

Ông Daphne Keller điều hành ban luật sư của Google nói rằng: “Không bất ngờ gì khi một dự án lớn và thú vị như vậy lại thu hút được nhiều lời bình luận và tất nhiên là cả những lời chỉ trích.”

“Người nắm bản quyền sẽ có toàn quyền kiểm soát và lựa chọn”, ông Richard Sarnoff – Nguyên Chủ tịch của Hiệp hội các nhà xuất bản Mỹ nói. “Nếu tác giả nào không muốn Google công bố và tiếp thị những tác phẩm của họ, trong vòng 48 tiếng, tác phẩm đó sẽ được đưa ra khỏi hệ thống.”

Vào ngày 04/09, toà án sẽ mở phiên chính thức. Nếu bản thoả thuận được thông qua thì các nhà văn và các nhà sản xuất sẽ thu về khoảng 63% lợi nhuận từ việc bán các bản sách kỹ thuật số cùng nhiều khoản thu khác; và Google sẽ nhận khoản lợi nhuận còn lại là 37%.

Google đã tuyên bố kế hoạch này từ 5 năm trước, và hiện tại hãng đã quét được ít nhất 7 triệu cuốn sách trên toàn thế giới, sử dụng loại máy quét có công suất làm việc trên 1000 trang một giờ. Toàn bộ dự án này nằm trong sứ mệnh mà Google coi là “Tổ chức lại nguồn tri thức của thế giới”.

Hầu hết các cuốn sách được quét đều được xuất bản trước 05/01/09, chúng đến từ khắp các nhà xuất bản và các thư viện trên toàn nước Mỹ. Google hiện đã kết nối với 29 thư viện lớn nhất trên thế giới như thư viện Harvard, Stanford và Bodleian ở Oxford.

“Google đã tìm thấy cách thức giúp thông tin dễ dàng cập nhật hơn với tất cả mọi người. Từ khi bắt đầu dự án đến giờ, chúng tôi đã hình dung một thế giới trong tương lai mà ở đó các sinh viên, các nhà nghiên cứu và những người yêu sách có thể khám phá và tiếp cận được với những tác phẩm trên khắp thế giới ngay trên mạng. Chúng tôi luôn tin rằng bản thoả thuận này sẽ mở ra một bước tiến vô cùng lớn trong tương lai không xa”.

Theo Vietnamnet

Google và Microsoft: Cuộc chiến giành e-mail trường đại học

Microsoft vs Google Các sinh viên Mỹ than phiền các tài khoản e-mail trường học quá nhỏ để chuyển tải cả núi thư và file đính kèm hàng ngày của họ. Để giải quyết vấn đề này, nhiều trường đại học và cao đẳng Mỹ đang nâng cấp e-mail của trường mình với sự hỗ trợ của các công ty phần mềm. Hai đại gia Google và Microsoft đang lao vào giành miếng bánh béo bở này.

Cộng sinh

Giống như các hệ thống điều hành, tìm kiếm và phần mềm, các trường học đang là mảnh đất màu mỡ cho hai gã khổng lồ công nghệ khai thác.

Hiện nay Google đang quản lý e-mail của hơn 2000 trường đại học và cao đẳng cho phép các tài khoản của sinh viên chứa 70 mail có dung lượng 100mb vào các hộp thư. Microsoft cũng không chịu kém cạnh. Họ đang cung cấp các mail Web-based miễn phí cho hàng ngàn trường học, trong đó có các trường đại học ở 86 quốc gia. Một khi các trường đại học ứng dụng những hệ thống này, sinh viên có thể giữ tên miền edu trong e-mail của mình trong khi nâng cấp từ các trang truy cập trường học chậm chạp để tiến tới các đăng nhập Google hay Microsoft tốc độ cao.

Kirk Gregersen, Giám đốc cao cấp chương trình Live@Edu của Microsoft cho biết nhiều trường đã sẵn sàng tin dùng phần mềm của Microsoft. Các dịch vụ mà Microsoft cung cấp rất thuận tiện cho việc mở rộng mối quan hệ bằng cách cho phép Microsoft quản lý e-mail sinh viên dựa trên Web của công ty.

Trong khi đó một số vùng đã lựa chọn Google trong những ngày đầu tiên như Northwestern. Gần đây thì có thêm Cornell, Georgetown và Temple mới gia nhập dịch vụ của Google. Phần mềm Google Apps dành cho chương trình giáo dục đã giành được nhiều kết quả đáng khích lệ bởi những đòi hỏi công nghệ của sinh viên ngày càng tăng cao và áp lực ngân sách là vấn đề đáng băn khoăn của nhiều khoa công nghệ thông tin.

Việc nắm giữ những chìa khoá e-mail mà Google cung cấp sẽ giúp các trường tiết kiệm chi phí nâng cấp máy chủ, trong khi vẫn tận dụng được các e-mail của sinh viên nhờ vào trang web công ty. Eric Weil, một thành viên quản lý cho Student Monitor – công ty nghiên cứu thị trường tập trung vào các trường đại học quốc gia cho biết: một sinh viên có trung bình hai hoặc ba địa chỉ e-mail cá nhân và số lượng các sinh viên dùng gmail đã tăng gấp đôi trong hai năm qua.

Theo cuộc khảo sát quốc gia Dự án máy tính trường học (CCP) thì 42% trường học báo cáo họ đã chuyển hoặc đang có ý định chuyển sang dùng một dịch vụ e-mail sinh viên do hãng ngoài cung cấp. 28% khác thì cho biết họ đang cân nhắc cài đặt dịch vụ này. Trưởng ban khảo sát CCP, ông Kenneth Green nói rằng hiện nay nhiều sinh viên năm nhất thích sử dụng e-mal dựa trên web bởi vì họ đã quen dùng chúng khi còn là học sinh phổ thông như việc người ta thích dùng số điện thoại đang có hơn là nhận một số mới.

Trường đại học Brown là một trong số nhiều trường đang thử nghiệm dịch vụ tin nhắn được Google quản lý. Sarah Bolling, một sinh viên năm ba của trường Brown cho biết cô hy vọng trường mình sẽ được “Google hoá” lâu dài bởi mỗi tuần cô nhận được khoảng 300 tin nhắn và bị nhỡ nhiều tin nhắn về việc học hành quan trọng chỉ vì dung lượng hộp thư trường của cô chỉ chứa được có 250mb. Donald Tom, trợ lý điều hành IT của trường Brown cho biết hơn 60% sinh viên của trường gửi tin nhắn sang các tài khoản Gmail. Vì thế ông cho rằng việc chuyển đổi này có thể sẽ giúp trường Brown tiết kiệm hàng triệu đô để nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ.

Google tạm áp đảo

Trong số các trường đã dùng e-mail được các công ty phần mềm gia công một phần thì có tới 57% cho biết họ đã lựa chọn Google, trong khi 38% thì hợp tác với Microsoft. Ngoài e-mail, phần mềm Apps dành cho giáo dục miễn phí của Google còn có thể chứa các dịch vụ chat voice và video cũng như chat chữ, bảng tính và phần mềm tạo web. Trong khi đó Microsoft đang cải tiến phần mềm văn phòng của mình và cho phép mỗi sinh viên sử dụng 25gb miễn phí trong không gian lưu trữ trực tuyến của mình.

Katie Rose, Giám đốc chương trình sáng tạo doanh nghiệp của Notre Dame cho biết khi trường cô hợp tác với Google về email năm ngoái, họ đã tiết kiệm được tới 1.5 triệu đô cho kho lưu trữ và những chi phí công nghệ khác. Quả là một con số không nhỏ. Còn tỷ lệ hài lòng dành cho e-mail sinh viên đã tăng lên 36% sau vụ chuyển đổi này. Tuy ít hơn, nhưng theo ước tính, trường Arizona cũng tiết kiệm được 400.000 đôla trong vụ hợp tác với Google. Trong khi đó, trường đại học Washington chỉ hy vọng tiết kiệm khoảng 100.000 đô la khi trở thành đối tác của Microsoft.

Vậy thì Google và Microsoft được lợi gì? Dĩ nhiên không phải là ngân sách. Không có công ty nào tính chi phí cho những e-mail cung cấp cho bên ngoài như vậy. Thậm chí trong hợp đồng với các trường học, Google miễn 50 đô lệ phí hàng năm cho mỗi người sử dụng và cam kết không chèn các quảng cáo vào e-mail khoa hay sinh viên. Microsoft cũng thực hiện một bản cam kết tương tự.

Jeff Keltner, người điều hành đội ngũ Apps dành cho giáo dục của Google cho biết mặc dù trước mắt việc hợp tác này không đưa đến bước đột phá về lợi nhuận nhưng Google hy vọng việc cung cấp dịch vụ miễn phí cho trường học sẽ giúp họ mở rộng các dịch vụ phần mềm và e-mail dựa trên trang web công ty.

Theo ông, các nhà quản lý không chỉ đánh giá cao việc tiết kiệm chi phí mà còn những thuận lợi về an ninh mạng. Ông nói: “Họ có thể mỉm cười và nói dữ liệu của tôi có thể an toàn hơn bất cứ đâu kể cả điện thoại hay laptop khi nằm trong trung tâm dữ liệu của Google”.

Timothy Chester, Trưởng phòng thông tin Pepperdine, một trường ĐH vừa mới hợp tác với Google cho biết số lượng nhân viên của ông giảm hơn 3 năm trước 20%. Việc tiết kiệm chi phí khi làm ăn với Google đã tạo điều kiện cho đội ngũ của ông tập trung nhiều hơn vào việc cải tiến phương thức máy tính được sử dụng vào học tập ở trường ĐH. “Chúng tôi muốn nhân viên của mình làm việc hiệu quả hơn kể cả khi đông khoa và sinh viên hơn”.

Theo Time

3 lý do Google phải sợ Microsoft

Sự ra đời của Bing, cuộc “hôn nhân” giữa Microsoft và Yahoo, xem chừng vẫn chẳng khiến Google bận tâm. Nhưng thực lòng, “vua tìm kiếm” này đang lo lắng vô cùng.

Google tự tin…

Hẳn nhiều người còn nhớ tuyên bố của Tổng giám đốc Google Eric Schmidt hồi tháng 6 vừa qua trước tin Microsoft ra mắt Bing: “Tôi không nghĩ sự ra đời của Bing sẽ khiến chúng tôi phải thay đổi những gì mình đang làm”.

googleVới Bing, họ đã thờ ơ như thế nhưng có một chút ngạc nhiên là ngay cả với bản hợp đồng liên minh của Microsoft và Yahoo, Google cũng tỏ ra chẳng lo ngại ngoài một lời “phàn nàn” yếu ớt với các nhà chức trách Mỹ rằng đó là một tin xấu đối với sự sáng tạo và cạnh tranh.

Phải chăng Google đang quá tự tin về bản thân mình?

Điều mọi người biết, chắc chắn Google cũng biết rằng đằng sau bản hợp đồng này là việc Microsoft là “kẻ có tiền” (việc hãng phần mềm lớn nhất thế giới này tuyên bố đầu tư 100 triệu USD để quảng cáo cho Bing là một ví dụ), Yahoo là “kẻ có thế lực” với lượng người dùng đông đảo (riêng tại Mỹ, dịch vụ Yahoo Mail đã có tới 98 triệu người dùng, nhiều gấp 4 lần Gmail) và cả 2 đều là những “kẻ có công nghệ”.

Mới đây tạp chí Time đã tiết lộ thông tin rằng Google lên kế hoạch cố gắng duy trì sự tiên phong trong lĩnh vực sáng tạo các công nghệ tìm kiếm để ngăn cản không cho Bing tìm được chỗ đứng rộng rãi trên thị trường.

Nhưng đã bắt đầu “sợ”

Nhưng cho dù Google có làm tốt bao nhiêu, họ vẫn có 3 lý do để lo sợ Microsoft

Thứ nhất: Microsoft quá rủng rỉnh tiền bạc và “hăng máu” trong cuộc chơi tìm kiếm.

Ông Tổng giám đốc Steve Ballmer của Microsoft có lần đã khẳng định sẽ dành từ 5 đến 10% doanh thu trong vòng 5 năm tới để đầu tư cho mảng tìm kiếm. Điều này đồng nghĩa với Bing sẽ được bơm thêm ít nhất 10 tỷ USD mỗi năm trong 5 năm liên tiếp. Tuyên bố chi 100 triệu USD cho các chiến dịch quảng cáo, truyền thông cho Bing mà Microsoft đưa ra có lẽ đã bắt đầu khiến Google hơi “ngại”.

Cho đến nay, những nỗ lực của Microsoft và Bing đã bắt đầu được đền đáp. Trong tháng 6 và tháng 7, thị phần của Bing đã tăng thêm gần 1% (từ 8% lên 8,9%).

Thứ 2: Google không biết cách tự “tiếp thị bản thân”.

Từ trước đến nay, Google gần như không phải tốn tiền cho các chiến dịch quảng cáo, tiếp thị. Nhưng khi Yahoo và Microsoft bắt tay nhau, sân chơi của Google đã bắt đầu có sự thay đổi. Bing đã khéo léo dẫn mọi người đến với một suy nghĩ rằng tất cả những gì Google làm được chỉ là những đường link mà nhiều khi còn vô dụng.

Nhưng Time cũng chỉ mọi người biết một điều rằng, cỗ máy tìm kiếm của Google cũng đã được tích hợp các tính năng như: cung cấp thông tin về thời tiết tại các địa phương khác nhau, lịch chiếu phim hay chuyển đổi các loại tiền tệ trên thế giới…

Có điều hầu hết người dùng trên thế giới chẳng mấy khi biết rằng Google đã có những thứ này. Google hiểu rằng họ cần phải “phản pháo” để nhắc mọi người nhớ lại rằng tại sao Google lại trở nên phổ biến như hiện nay.

Thứ 3: Google đang “thâm canh” quá mức trong lĩnh vực tìm kiếm.

Với việc đóng góp tới 97% tổng doanh thu của hãng, quảng cáo trực tuyến đang là con bò sữa của Google. Đó cũng có thể là “tử huyệt” của Google dù trong ngắn hạn Yahoo- Microsoft có thể chưa khiến họ mất mát gì nhưng có ai dám chắc về tương lai của 5 năm hay 10 năm tới?

Việc Google liên tục bành trướng sang các lĩnh vực khác như di động (Android), trình duyệt (Chrome), PC (Chrome OS sắp ra mắt)… cho thấy gã khổng lồ này đang muốn nuôi thêm nhiều con “bò sữa” khác.

Rõ ràng, dù vẫn là ông vua của tìm kiếm nhưng Google đã bắt đầu sợ Microsoft và Yahoo.

Theo ICTNews (PC World)

Bing sẽ bắt tay với Wolfram Alpha?

Blog công nghệ TechCrunch vừa đưa tin: Công cụ tìm kiếm Bing của Microsoft từ nay sẽ sử dụng một phần dữ liệu của Wolfram Alpha trong các kết quả tìm kiếm của mình.

bingMặc dù vẫn tiếp tục tăng trưởng về thị phần nhưng Bing vẫn còn cách Google một khoảng rất xa.

Tuy đại diện của cả Microsoft và Wolfram Research đều từ chối bình luận về thông tin này nhưng giới công nghệ vẫn tin tưởng rằng bản hợp đồng giữa 2 công cụ tìm kiếm trực tuyến đã được ký kết và đang chuẩn bị được công bố.

Theo những nguồn tin “thân cận” với Microsoft, trong thời gian tới, bảng kết quả tìm kiếm của Bing sẽ được phép trích dẫn và hiển thị một số dữ liệu mà công cụ tìm kiếm chuyên biệt Wolfram Alpha đã sản sinh ra, đặc biệt là các lệnh tìm kiếm liên quan đến lĩnh vực khoa học.

Wolfram Alpha được những người khai sinh ra nó mệnh danh là “cỗ máy tìm kiếm điện toán”, ra đời vào giữa tháng 5 vừa qua.

Tuy không gây được “sóng gió” trên lĩnh vực công nghệ hay thị trường tìm kiếm trực tuyến như kỳ vọng nhưng Wolfram Alpha vẫn được coi là công cụ tìm kiếm thú vị và hữu dụng đối với một số lĩnh vực khoa học nhất định. Công cụ tìm kiếm này không sử dụng thuật toán hiển thị và liệt kê những liên kết liên quan đến từ khóa tìm kiếm như các công cụ khác vẫn đang làm hiện nay mà thiên về việc cho ra đời những câu trả lời hoàn chỉnh liên quan đến các vấn đề kinh tế hoặc các công thức toán học phức tạp…

Bing, cũng là một cỗ máy tìm kiếm mới được Microsoft ra mắt hồi đầu tháng 6 vừa qua và vẫn đang trong giai đoạn được giới công nghệ chú ý cũng như tiếp tục phát triển. Bản hợp đồng với Yahoo vừa qua là một minh chứng Microsoft đang rất nỗ lực tìm mọi cách để đưa Bing lớn mạnh hơn nữa và nhắm đến mục tiêu hạ bệ Google – cỗ máy tìm kiếm lớn nhất thế giới hiện nay.

Mặc dù tin là Bing gần như chắc chắn sẽ bắt tay với Wolfram Alpha nhưng nhiều người vẫn đặt ra câu hỏi liệu các kết quả tìm kiếm trên Bing có buộc phải mang kèm theo thương hiệu của Wolfram Alpha hay không?

Trong blog chính thức của mình, Stephen Wolfram – người sáng lập ra Wolfram Alpha đã thừa nhận rằng sự “trục trặc” trong vấn đề ngôn ngữ đã khiến cho hơn một nửa số lệnh tìm kiếm trên công cụ này không cho kết quả và họ vẫn đang phải tích cực khắc phục vấn đề này.

Theo ICTNews (CNET)

Quảng bá web theo kết quả tìm kiếm hay Adwords?

Nhiều doanh nghiệp có website hiện vẫn loay hoay tìm câu hỏi: Nên quảng bá trang web của mình theo kiểu SEO (Search Engine Optimization – Tối ưu website cho các cỗ máy tìm kiếm) để khi khách hàng tìm kiếm từ khóa liên quan, trang web của mình sẽ hiện lên với kết quả cao – hay quảng bá web theo dạng trả tiền từng lần click cho Google (hoặc Yahoo, Bing…).

Thực tế cho thấy, hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp lớn trên thế giới và trong nước đang áp dụng song song cả hai hình thước quảng bá web nêu trên.

SEOLợi ích của việc quảng bá web thông qua việc tối ưu hóa website (SEO) là bạn tiết kiệm chi phí rất lớn, đồng thời, đối với người tìm kiếm thông tin, việc click chọn một kết quả trong phần tìm kiếm sẽ được ưu tiên gấp nhiều lần việc click vào một quảng cáo bên phải hay trên cùng của trang tìm kiếm (thường được gọi là Liên kết tài trợ – hay Sponsors link).

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp của bạn chưa làm SEO tốt cho website của mình hoặc website mới được xây dựng, thì việc quảng cáo tài trợ (Adwords) cũng vô cùng cần thiết. Với những mẩu quảng cáo ấn tượng luôn xuất hiện trên nhất hoặc bên phải trang kết quả tìm kiếm theo đúng từ khóa, đúng ngữ cảnh thì hiệu quả quảng cáo là không nhỏ. Ngoài ra, việc đăng quảng cáo tài trợ liên tục cũng là cách bạn “đánh phủ đầu” đối thủ của mình làm đối thủ có cảm giác bạn vô cùng “hung hãn, máu lửa” và rất dồi dào tiềm lực tài chính. Hiệu quả mang lại là đối thủ của bạn sẽ phải rút lui hoặc e dè hơn trong cuộc đấu giành thị trường với công ty bạn.

google-marketingTất nhiên, bạn cần cân nhắc khả năng tài chính và hiệu quả kinh doanh thông qua quảng cáo tài trợ để tránh tiền thì tốn rất nhiều mà hiệu quả thì đạt rất thấp.

Với bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ muốn giúp bạn một khái niệm nhỏ về quảng bá website thông qua công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo hay Bing.com.

Một vài điểm mà bạn cần chú ý khi muốn quảng bá website của mình thông qua các cỗ máy tìm kiếm:

* Xây dựng thông tin phong phú, khác lạ, tránh nhàm chán.
* Luôn có nội dung mới.
* Hãy tối ưu website của mình ngay từ khi bắt tay xây dựng và làm việc này thường xuyên.
* Chịu tốn chi phí cho những ngày đầu trong việc đăng banner quảng cáo trên các web có nhiều người truy cập để thu hút traffic.
* Có thể đặt thêm quảng cáo tài trợ.

Theo kinh nghiệm của SEM Vietnam thì việc kết hợp Quảng bá web và Quảng cáo Google Adwords sẽ hiệu quả hơn rất nhiều

- Quảng cáo trên Google Adwords sẽ ngay lập tức có thêm khách hàng mới
- Quảng bá web (SEO) sẽ duy trì được các từ khóa cần thiết trong lĩnh vực kinh doanh cho công ty bạn sau khi bạn ngừng quảng cáo Google Adwords.

Dự án tìm kiếm ‘bí mật’ của Google có tên… Caffeine?

Google vừa vén màn hé lộ dự án mới nhất của hãng có tên mã “Caffeine”, tập trung vào việc xây dựng một công cụ tìm kiếm Internet thế hệ mới.

“Trong vòng vài tháng qua, một nhóm chuyên gia của chúng tôi đã bắt tay vào nghiên cứu một cấu trúc thế hệ mới cho nền tảng tìm kiếm Web”, kỹ sư Sitaram Iyer của Google tiết lộ trên trang blog chính thức của hãng.

google“Đây là bước đi đầu tiên trên cả một hành trình dài, mà mục tiêu cuối cùng là mở rộng quy mô, tăng cường tốc độ, sự chính xác, tính tổng hợp và toàn diện hơn nữa cho kết quả tìm kiếm”.

Ngay từ hôm nay, người dùng đã có thể thử nghiệm “Caffeine” tại địa chỉ: www2.sandbox.google.com. Trang tìm kiếm này trông giống hệt với phiên bản Google kinh điển mà người dùng quen thuộc bấy lâu nay.

“Cơ sở hạ tầng mới nằm ngay bên dưới công cụ tìm kiếm của Google. Điều đó có nghĩa là đại đa số người dùng sẽ không nhận thấy sự khác biệt. Tuy nhiên, các nhà phát triển web sẽ ghi nhận được một số điểm mới và chúng tôi mở rộng cửa trước mọi phản hồi”, Iyer viết tiếp.

Google nhấn mạnh rằng hiện tại, họ chỉ tìm kiếm phản hồi về thể hiện của Caffeine nếu đem so với công cụ Google hiện tại mà thôi, chứ không có ý định so bì với các công nghệ tìm kiếm đối thủ.

Ý của Google khiến người ta không khỏi nhớ tới Bing, công cụ tìm kiếm vừa ra mắt cách đây ít lâu của Microsoft và nhận được khá nhiều lời khen.

Tháng trước, gã khổng lồ phần mềm thậm chí còn công bố thỏa thuận hợp tác kéo dài 10 năm với địch thủ một thời Yahoo. Hợp lực với nhau, Microsoft và Yahoo sẽ kiếm soát khoảng 30% thị phần tìm kiếm, bằng một nửa so với Google. Yahoo! sẽ sử dụng công cụ Bing của Microsoft và độc quyền khai thác quảng cáo tìm kiếm đi kèm.

Forrester ước tính thị trường quảng cáo và tìm kiếm sẽ tăng trưởng khoảng 15% mỗi năm lên hơn 30 tỷ USD vào năm 2014, chỉ tính riêng tại Mỹ.

(Theo VietNamNet – PCWorld)